CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Khoa học Xã Hội & Nhân Văn

  • Duyệt theo:
81 Cơ chế tạo nghĩa ẩn dụ nhìn từ thuyết pha trộn ý niệm / Phan Thị Hà // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 19-26 .- 400

Lí thuyết pha trộn ý niệm làm sáng tỏ sự hình thành ý nghĩa và tích hợp thông tin của Fauconnier và cộng sự là một bước phát triển mới của ngôn ngữ học tri nhận. Bài viết trình bày ngắn gọn nguyên nhân, mục đích hình thành thuyết pha trộn ý niệm, phân tích một số ví dụ điển hình để thấy được tính năng động trong hình thành ý nghĩa, tính vô biên của không gian tinh thần, mối quan hệ giữa ánh xạ ý niệm và hoạt động sản sinh ý nghĩa dưới góc nhìn của thuyết này.

82 Nhìn lại hướng tiếp cận ngữ pháp kết cấu trong nghiên cứu ngữ pháp hiện nay / Trần Thị Phương Lý, Tô Quốc Minh Huân // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 36-44 .- 400

Trên cơ sở sử dụng phương pháp hệ thống hoá, bài viết này hướng tới giới thiệu với bạn đọc về quá trình hình thành, phát triển chuyên sâu về mặt lí thuyết và phương pháp cũng như những thành tựu của Ngữ pháp kết cấu như một cách tiếp cận ngôn ngữ trong ba thập kỉ qua với sự cống hiến của những nhà ngôn ngữ như Fillmore, Kay, Langacker, Lakoff, Goldberg, Croft…Nội dung của bài viết còn nhằm giới thiệu nhiều chủ đề trọng tâm hiện đang được giải quyết trong Ngữ pháp kết cấu và bàn về cách lĩnh vực này hiện đang mở rộng và tạo mối liên hệ với các lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ khác.

83 Tỉnh lược và thế với tư cách phương thức liên kết ở các diễn ngôn trong cuốn Hồ Chí Minh “về vấn đề giáo dục” / Dương Thị Bích Hạnh // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 56-61 .- 400

Tỉnh lược là một hình thức của phép thế, thế bằng zêrô. Trong phép tỉnh lược và phép thế, cái được chú ý là yếu tố bị tỉnh lược và thay thế. Những yếu tố này có thể là: danh từ (cụm danh từ), động từ, tính từ (cụm động từ/ cụm tính từ), mệnh đề (cấu trúc chủ - vị, hay cú). Trong các diễn ngôn của cuốn Hồ Chí Minh “Về vấn đề giáo dục”, có thể nhận thấy, phép tỉnh lược và phép thế thường được sử dụng để liên kết câu. Các yếu tố bị tỉnh lược hoặc thay thế đều giữ chức vụ ngữ pháp trong câu. Chúng có thể là chủ ngữ, vị ngữ hoặc trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ. Bên cạnh tác dụng liên kết, việc sử dụng phép tỉnh lược và phép thế còn là một dụng ý nghệ thuật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ phép tỉnh lược và phép thế mà các diễn ngôn của Người trở nên ngắn gọn, cô đúc, không rườm rà, tránh được lỗi lặp từ ngữ.

84 Yếu tố hư từ trong các biểu thức danh hoá thuộc ẩn dụ ngữ pháp trong tiếng Việt (ngữ liệu truyện thiếu nhi Việt Nam) / Nguyễn Thị Bích Hà, Bùi Trọng Ngoãn // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 73-83 .- 400

Nghiên cứu về vai trò của các yếu tố hư từ trong các biểu thức danh hoá thuộc ẩn dụ ngữ pháp của loại hình ngôn ngữ đơn lập cụ thể qua trường hợp của tiếng Việt - ngôn ngữ không biến đổi hình thái, với nguồn ngữ liệu nghiên cứu là truyện đồng thoại thiếu nhi Việt Nam qua hai tác giả tiêu biểu là Tô Hoài và Võ Quảng.

85 Lẽ thường trong lập luận nhân vật (qua một số tác phẩm văn xuôi giai đoạn 1930-1945) / Chu Thị Thùy Phương // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 189-195 .- 895

Bài viết khảo sát, phân tích các đoạn đối thoại nhân vật qua một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930-1945, để chỉ ra các lẽ thường tiêu biểu, hình thành từ các mối quan hệ xã hội: quan hệ trong gia đình (lẽ thường đạo đức), quan hệ giữa các tầng lớp (thống trị/ bị trị) (lẽ thường quyền uy), v.v. Đó là một phần biểu hiện của tư duy văn hóa người Việt.

86 Phân biệt động từ nói năng và động từ chỉ cách thức nói năng trong tiếng Việt / Mai Thị Hảo Yến // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 3-11 .- 400

Trên nền tảng lí thuyết dụng học, bài viết đã phân tích rõ những tương đồng và khác biệt của động từ nói năng và động từ chỉ cách thức nói năng. Ngoài kết quả về mặt ngôn ngữ học, nghiên cứu cũng góp phần khẳng định: hệ thống các động từ nói năng và động từ chỉ cách thức nói năng trong tiếng Việt phần nào “nói lên” văn hóa nói của người Việt - một văn hóa nói thực sự vô cùng phong phú và giàu sắc thái cảm xúc.

87 Ngôn ngữ đánh giá “thái độ” trong các bài bình luận về vấn đề chăm sóc đời sống nhân dân lao động / Trương Thị Mỹ Hậu, Bùi Thị Thúy Hằng // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 21-31 .- 400

Nghiên cứu này ứng dụng lí thuyết đánh giá để nhận diện và phân tích đánh giá Thái độ (bao gồm Cảm xúc, Phán xét và Thẩm giá) của các tác giả trong các bài bình luận trên báo Nhân dân về vấn đề chăm sóc đời sống nhân dân lao động ở thời điểm dịch bệnh Covid-19 hoành hành. Kết quả nghiên cứu ghi nhận được sự xuất hiện của tất cả các loại giá giá trị Cảm xúc, Phán xét và Thẩm giá ở cả hai góc độ tích cực và tiêu cực. Chủ thể đánh giá ở các loại giá trị cũng đa dạng, bao gồm: tác giả và phi tác giả.

88 Các yếu tố cần lưu ý trong việc dạy và học môn biên dịch hiện nay / Lương Bá Phương // .- 2023 .- Số 10(359) .- Tr. 44-51 .- 400

Biên dịch là môn học không thể thiếu trong các chương trình đào tạo ngoại ngữ ở bậc đại học của các trường chuyên ngữ. Trong bài viết này, chúng tôi điểm qua những thay đổi trong quan niệm về môn Biên dịch, những vấn đề cần lưu ý trong quá trình tiến hành các hoạt động dạy và học môn Biên dịch như yếu tố nội dung, phương pháp, văn hóa và yếu tố công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI). Qua đó, đề xuất các hoạt động trong quá trình này nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc dạy và học môn Biên dịch.

89 Nghiên cứu tính hiệu quả của phương pháp thuyết trình nhóm đối với kĩ năng nói của sinh viên tại một trường Đại học ở Việt Nam / Nghiêm Thị Thu Hà, Hoàng Thị Thanh Huyền // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 67-74 .- 400

Nghiên cứu này áp dụng phương pháp can thiệp xã hội học, so sánh giữa nhóm sinh viên được áp dụng phương pháp thuyết trình nhóm và nhóm không áp dụng phương pháp này. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, phương pháp thuyết trình nhóm đã có tác động tích cực đến kĩ năng nói của sinh viên. Cụ thể, các chỉ số như tần số phát âm sai trọng âm, tần số sử dụng từ không chính xác, tần số xuất hiện các câu phức, số lần ngắt quãng khi nói, tần số xuất hiện các từ nối và điểm kiểm tra tổng quát đều cho thấy sự cải thiện rõ rệt.

90 Ý niệm màu xanh trong thơ (khảo sát trong tác phẩm thơ của một số nhà thơ nữ Việt Nam) / Phạm Thị Hương Quỳnh // .- 2023 .- Số 10(359) .- Tr. 106-112 .- 400

Bài viết này tập trung tìm hiểu về ý niệm màu xanh thông qua khảo sát trong thơ của các nhà thơ nữ là Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Lâm Thị Mỹ Dạ, Ngân Giang. Kết quả khảo sát cho thấy có một ẩn dụ ý niệm tiêu biểu nhất là tuổi trẻ là màu xanh. Các nhà thơ nữ đã tri nhận về tuổi trẻ thông qua màu xanh ở trên hai phương diện là thời gian tuổi trẻ và tình yêu của tuổi trẻ. Sự tri nhận này rất điển hình cho cách tư duy của phụ nữ bởi vì những điều mà phụ nữ quan tâm nhất thường là tuổi trẻ và tình yêu.