CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Khoa học Xã Hội & Nhân Văn
231 Xây dựng môi trường học tập tích cực trong trường đại học Việt Nam: Bài học từ kinh nghiệm quốc tế / Nguyễn Văn Lượng // .- 2024 .- Tập 20 - Số 06 .- Tr.75-80 .- 370
Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích từ các tài liệu quốc tế và trong nước về các thách thức mà sinh viên, giảng viên và nhà trường phải đối mặt khi xây dựng một môi trường học tập tích cực trong trường đại học. Bài viết đề xuất một số chiến lược để nhà trường tạo ra môi trường học tập tích cực, bao gồm tạo điều kiện học tập linh hoạt, tăng cường hỗ trợ học thuật và khuyến khích sự tham gia của sinh viên.
232 Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh ở các trường trung học cơ sở huyện Chương Mỹ, Thành phố Hà Nội = Management measures of students' self-directed learning activities in secondary schools of Chuong My district, Hanoi City / Trần Văn Hùng, Phạm Thị Hà // .- 2024 .- Số 03(64) .- Tr. 164-172 .- 370
Đề xuất 5 biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động tự học của học sinh ở các trường THCS huyện Chương Mỹ (Thành phố Hà Nội) trên cơ sở nghiên cứu lý luận hoạt động tự học của học sinh THCS, thực tiễn về hoạt động tự học của học sinh và quản lý hoạt động tự học của học sinh ở các trường THCS huyện Chương Mỹ.
233 Một cách đọc thơ Lưu Quang Vũ : từ phê bình cảnh quan = A way to read Luu Quang Vu’s poetry : from landscape criticism / Bùi Bích Hạnh // .- 2024 .- Số 03(64) .- Tr. 173-182 .- 810
Phê bình cảnh quan là một cách đọc như thế, để kiến giải cái nhìn đa chiều của chủ thể trữ tình trong thế giới nghệ thuật thơ ông về tính tương quan giữa không gian phố thị và sinh thái, không gian người nữ và cảnh quan thiên tính nữ, cô đơn đám đông. Nhà thơ đã thể hiện cái nhìn về không gian mang quan niệm sinh thái nhân văn, quan niệm về giới và tinh thần con người hiện sinh. Ở đó, bạn đọc sẽ diễn giải thêm được những nghịch lí, những đối thoại mang tính thời đại, tính quan niệm của một nhà thơ hiện sinh với khát vọng phi trung tâm, vì một khuynh hướng văn học “thiểu số”.
234 Phát triển sức mạnh biển của Việt Nam - Những gợi ý từ lý thuyết sức mạnh biển của Alfred Thayer Mahan / Ngô Thị Bích Lan // .- 2023 .- Volume 8 (N2) - Tháng 12 .- Tr. 55-60 .- 327.04
Trong phạm vi bài viết, tác giả sẽ phân tích tiềm năng phát triển sức mạnh biển của Việt Nam dựa theo lý thuyết mà Mahan đã đưa ra trong bối cảnh hiện đại. Trên cơ sở đó xác định các ưu điểm và hạn chế, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm xây dựng và bảo vệ sức mạnh biển của Việt Nam.
235 Phát triển "Thương hiệu Việt Nam" qua các hoạt động ngoại giao công chúng trong giai đoạn Covid-19 đến nay / Trương Thị Lê Hồng // .- 2023 .- Volume 8 (N2) - Tháng 12 .- Tr. 61-68 .- 327
Trong bài viết này, tác giả sẽ nghiên cứu về các hoạt động ngoại giao công chúng nhằm quảng bá hình ảnh, thương hiệu Việt Nam từ năm 2020 đến nay.
236 ChatGPT và khả năng hiểu ngữ cảnh, hồi đáp lời than phiền gián tiếp của người Việt / Lại Thị Minh Đức // .- 2023 .- Volume 7 (N4) - Tháng 6 .- Tr. 01-08 .- 495.92
Bài báo này nghiên cứu việc liệu ChatGPT có hiểu được những phát ngôn than phiền gián tiếp (có tiền giả định và hàm ý thái độ, mang đặc trưng văn hóa Việt Nam trong đó) và cách ChatGPT ho i đa pcác phát ngôn than phiền ấy (reponse to indirect complaints). Đối với các công ty đang ứng dụng trí tuệ nhân tạo AI (chat robo) vào dịch vụ chăm sóc khách hàng, việc cần phải giải quyết than phiền từ khách hàng một cách chuyên nghiệp và lịch sự là rất quan trọng.
237 Canadian digital dimplomacy on the Facebook platform in Vietnam / Nguyen Thai Hoang Hanh // .- 2023 .- Volume 8 (N1) - Tháng 9 .- P. 26-33 .- 327
Bài viết này xem xét việc ngoại giao số của Canada trên nền tảng mạng xã hội ở Việt Nam nhằm xác định điểm mạnh và điểm yếu. Đồng thời bài viết cũng đưa ra một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy ngoại giao số của Canada tại Việt Nam cũng như đưa ra vài hàm ý cho chính sách ngoại giao số của Việt Nam.
238 Những từ ngữ địa phương Nam bộ trong các tác phẩm văn xuôi từ cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 / Trần Văn Tiếng // .- 2023 .- Volume 8 (N1) - Tháng 9 .- Tr. 34-39 .- 495.92
Văn xuôi Nam Bộ cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20 là một bộ phận quan trọng trong văn học Việt Nam thời cận đại. Các tác phẩm văn xuôi Nam Bộ ra đời trong giai đoạn này đánh dấu bước chuyển tiếp từ lối hành văn cũ sang cách thể hiện mới của chữ Quốc ngữ.
239 Tác động của MXH và vai trò định hướng thông tin của báo chí đối với MXH về vấn đề bình đẳng giới / Trần Thị Hòa // .- 2024 .- Số 4 - Tháng 4 .- Tr. 115-119 .- 070
Mạng xã hội có tác động kép đối với nhận thức về bình đẳng giới: Giúp thúc đẩy sự tiến bộ trong nhận thức về bình đẳng giới, tăng cường khả năng kết nối và sự tự tin để cải thiện cuộc sống; Củng cố một số định kiến về giới. Nghiên cứu gợi ý cần quan tâm đến sự cần thiết, vai trò định hướng thông tin của báo chí cũng như vai trò chọn lọc thông tin của các nhà quản lý để mạng xã hội thực sự có thể phát huy tác dụng trong truyền thông về bình đẳng giới
240 Hoạt động tập kết chuyển quân tại Cao Lãnh năm 1954 / Lê Đình Trọng, Nguyễn Ngọc Anh Thư, Bùi Phước Vinh // .- 2023 .- Tập 12 - Số 9 .- Tr. 112 - 120 .- 959
Sau thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết, nước ta tạm thời bị chia cắt thành hai miền, lấy Vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời. Việc đình chiến quy định quân đội hai bên ngừng bắn, quân đội cách mạng phải tập kết ra Bắc, còn quân đội Pháp phải tập kết vào Nam, sau hai năm, sẽ bắt đầu tổng tuyển cử và thống nhất lại đất nước... Cao Lãnh lúc bấy giờ là một trong ba điểm tập kết chuyển quân ra Bắc, có thời gian 100 ngày chuẩn bị tập kết và chuyển quân. Trong thời gian này, quân dân Cao Lãnh đã tổ chức nhiều hoạt động quan trọng như: xây lại mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, xây dựng bia tưởng niệm, dạy học,… tạo tiếng vang lớn, giúp cho vững lòng hơn đối với cả người đi và người ở lại, khiến họ vững tin đấu tranh xây dựng, vun đắp cho cách mạng Việt Nam nói chung, ở Cao Lãnh nói riêng.