CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Tiếng Anh

  • Duyệt theo:
21 Những lỗi ngôn ngữ của google translate khi dịch văn bản từ tiếng anh sang tiếng Việt / Phan Thị Ngọc Lệ // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 49-56 .- 420

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm ra những lỗi ngôn ngữ cơ bản của Google Translate khi dịch văn bản từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Để đạt được mục đích nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích lỗi trên các văn bản dịch của Google Translate từ bài tập nhóm của hai lớp biên dịch Anh-Việt cơ bản tôi được phân công trực tiếp giảng dạy tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Kết quả cho thấy các nhóm lỗi chính của Google Translate bao gồm lỗi ngữ nghĩa, lỗi từ vựng, và lỗi ngữ pháp. Tôi hi vọng rằng nghiên cứu này sẽ cho giáo viên và người học thấy được những hạn chế của Google Translate, từ đó có những phương pháp giảng dạy và học tập phù hợp trong môn dịch thuật và tiếng Anh.

22 Ẩn dụ cấu trúc “tài chính là thể thao”trong diễn ngôn tài chính Tiếng Anh đối chiếu với Tiếng Việt / Hoàng Văn Thắng // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 96-106 .- 400

Khảo sát và phân tích ẩn dụ cấu trúc được cho là phổ biến trong diễn ngôn tài chính có miền nguồn Thể thao trên cơ sở đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Qua nghiên cứu này, bài viết không chỉ nhấn mạnh vai trò trung tâm của ẩn dụ như một công cụ tri nhận và diễn ngôn, mà còn làm rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ, văn hóa và tư duy trong việc kiến tạo nhận thức về tài chính.

23 Quá trình quan hệ trong diễn ngôn đánh giá nhà hàng tiếng Anh và tiếng Việt: Nghiên cứu đối chiếu theo đường hướng ngôn ngữ học chức năng hệ thống / Lê Hoài Thu // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 57-67 .- 420

Nghiên cứu tiến hành đối chiếu quá trình Quan hệ trong diễn ngôn đánh giá nhà hàng giữa tiếng Anh và tiếng Việt dựa trên lí thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống. Phân tích định lượng và định tính với 2.642 cú tiếng Anh và 2.108 cú tiếng Việt trên trang đánh giá nhà hàng TripAdvisor của Việt Nam và Mỹ cho thấy quá trình Quan hệ chiếm tỉ lệ lớn ở cả hai ngôn ngữ,

24 Đề ngữ, chủ ngữ và tác nhân trong câu tiếng Việt và tiếng Anh theo lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống / Trần Thu Thủy // .- 2025 .- Số 7 .- Tr. 73-80 .- 400

Trong lý thuyết Ngữ pháp Chức năng Hệ thống (Systemic Functional Grammar - SFG), Đề ngữ (Theme), Chủ ngữ (Subject) và Tác nhân (Actor) là ba chức năng ngữ nghĩa khu biệt (nhưng không xuất hiện biệt lập, xuất hiện trong mối quan hệ với các chức năng khác từ cùng một nét nghĩa). Đề ngữ là điểm xuất phát của thông điệp, Chủ ngữ là sự bảo hành cho sự trao đổi thông tin còn Tác nhân như là người hoặc vật thực hiện hành động trong quá trình. Trong cả tiếng Anh và tiếng Việt, ba vai trò này có thể trùng khớp trong những câu trần thuật đơn giản nhưng thường tách biệt rõ ràng trong các cấu trúc bị động, đảo ngữ hoặc khi xuất hiện Đề ngữ phi chủ ngữ.

25 Dịch khẩu hiệu quảng cáo Anh - Việt theo hướng tiếp cận chức năng - văn hoá / Vũ Thị Thanh // .- 2025 .- Số 8 .- Tr. 40-46 .- 400

Bài viết này khảo sát cách thức dịch sáng tạo góp phần bản địa hóa các khẩu hiệu quảng cáo tiếng Anh sang tiếng Việt, nhằm đồng bộ hóa bản sắc thương hiệu với sự hấp dẫn về mặt văn hoá. Dựa trên lý thuyết Skopos và các khái niệm thuộc ngữ dụng học văn hoá, nghiên cứu tiến hành phân tích 15 cặp khẩu hiệu quảng cáo, trong đó chọn ra phân tích sâu 7 trường hợp minh hoạ, và phỏng vấn 5 chuyên gia trong lĩnh vực dịch thuật và tiếp thị. Kết quả nghiên cứu chỉ ra 6 chiến lược chính: chuyển đổi từ vựng, tái cấu trúc cú pháp, điều chỉnh ẩn dụ, thay thế văn hoá, tái thiết cảm xúc và tương đương chức năng. Các chiến lược này có thể được vận dụng kết hợp nhằm duy trì hiệu lực thuyết phục và sự phù hợp văn hoá. Các chuyên gia được phỏng vấn nhấn mạnh vai trò của người dịch như những đồng tác giả sáng tạo, có nhiệm vụ dung hoà giữa giọng điệu thương hiệu, định hướng truyền thông và kỳ vọng của công chúng mục tiêu. Bài viết đề xuất mở rộng khái niệm năng lực dịch thuật theo hướng bao gồm cả sự sáng tạo, nhận thức văn hoá và tư duy chiến lược; đồng thời khuyến nghị tích hợp mô hình chuyển ngữ sáng tạo vào chương trình đào tạo biên dịch viên tại Việt Nam. Những phát hiện này có ý nghĩa thiết thực đối với lý thuyết và thực hành chuyên nghiệp trong lĩnh vực tiếp thị xuyên văn hoá.

26 Phân tích cấu trúc bài phê bình sách chuyên ngành ngôn ngữ học viết bằng tiếng Anh / Nguyễn Bích Hồng // .- 2025 .- Số 2 .- Tr. 32-41 .- 400

Nghiên cứu hướng tới xây dựng mô hình cấu trúc bài phê bình sách Ngôn ngữ học để làm nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà Ngôn ngữ học ở Việt Nam và đóng góp vào kho tàng lí luận về phân tích thể loại trong và ngoài nước.

27 Biểu hiện của phương châm cộng tác trong khẩu hiệu tuyên truyền tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh) / Trần Thanh Dũ // .- 2025 .- Số 2) .- Tr. 42-51 .- 400

Khẩu hiệu tuyên truyền cũng là một sản phẩm ngôn từ nên quá trình giao tiếp qua khẩu hiệu tuyên truyền cũng không nằm ngoài quy luật trên. Đó là quá trình truyền gửi thông điệp từ một nhóm đối tượng này (nhà tuyên truyền, nhà quản lí xã hội) sang một nhóm đối tượng khác (đối tượng được tuyên truyền).

28 Hiện tượng mơ hồ trong quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh / Phạm Thùy Giang // .- 2025 .- Số 3 .- Tr. 24-32 .- 400

Bài viết này được thực hiện nhằm trình bày một số lí luận về mơ hồ, làm rõ tác dụng của mơ hồ trong việc thu hút sự chú ý, tạo ấn tượng mạnh mẽ và tăng cường hiệu quả truyền thông cho thương hiệu thông qua phân tích một số ví dụ cụ thể trong khẩu hiệu quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh. Những phát hiện này không chỉ đóng góp vào việc nghiên cứu sâu hơn về chiến lược ngôn ngữ trong quảng cáo mà còn cung cấp gợi ý thiết thực cho các nhà quảng cáo nhằm thiết kế thông điệp hiệu quả hơn.

29 Động từ liên kết trong tiếng Anh và các đơn vị tương đương trong tiếng Việt: Tiếp cận từ ngôn ngữ học đối chiếu / Lương Bá Phương // .- 2025 .- Số 7 .- Tr. 66-72 .- 400

Bài báo này trình bày nghiên cứu đối chiếu động từ liên kết trong tiếng Anh và các biểu thức tương đương trong tiếng Việt trên ba phương diện chính: cú pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng. Dựa trên cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học đối chiếu và ngữ pháp chức năng, nghiên cứu xác lập khung phân tích liên hệ giữa các động từ liên kết tiếng Anh như be, become, seem,vv và các biểu thức tương ứng trong tiếng Việt như là, trở thành, có vẻ, trông, dường như,vv. Kết quả phân tích cho thấy rằng mặc dù khác biệt về hình thức ngữ pháp-tiếng Anh thiên về cấu trúc cú pháp cố định, trong khi tiếng Việt linh hoạt và phụ thuộc nhiều vào ngữ cảnh-cả hai ngôn ngữ đều có các phương tiện diễn đạt tương đồng về chức năng: định danh, mô tả đặc điểm, biểu thị cảm xúc và thay đổi trạng thái. Ngoài ra, bài báo cũng xây dựng bảng phân loại đối chiếu giữa các nhóm động từ liên kết và biểu thức tiếng Việt theo chức năng và mức độ tương đương. Bài viết góp phần làm rõ bản chất của cấu trúc liên kết trong hai ngôn ngữ, từ đó cung cấp cơ sở thực tiễn cho giảng dạy ngữ pháp, biên - phiên dịch, và phát triển tài liệu giáo dục ngôn ngữ có tính liên hệ đối chiếu.

30 Problems encountered by English-majored students at Duy Tan university in using English collocations built on the pattern “I + cognitive non-factive verb and epistemic adverb” for communication / Tran Thi Minh Giang // .- 2020 .- Số 05(42) .- P. 132-145 .- 420

This study aims at examining the problems that English-majored students at Duy Tan University in Da Nang, Viet Nam encounter in the use of the English pattern “I + Cognitive Non-factive Verb + Epistemic Adverb”. The pattern is herein referred to as “I + CNFV and EA” for short.