CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Tiếng Anh
21 Tốc độ nói tiếng Anh của sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ Anh khi áp dụng kĩ thuật Video Shadowing / Nguyễn Thị Minh Hà, Đặng Thị Khánh Hà, Ngô Phương Anh // .- 2024 .- Số 10(359) .- Tr. 52-59 .- 400
Kĩ năng nói Tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập, phát triển cá nhân và giúp sinh viên chuẩn bị đầy đủ hơn hành trang của mình cho việc hội nhập trong thời kì toàn cầu hóa và cho công việc của một công dân toàn cầu trong tương lai.
22 Đối chiếu ngữ nghĩa của một số thành ngữ so sánh trong tiếng Anh và tiếng Việt, ứng dụng trong dạy - học ngoại ngữ / Nguyễn Thanh Bình, Phạm Khánh Linh // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 66-76 .- 420
Trình bày nghiên cứu về nét tương đồng và khác biệt về phương diện ngữ nghĩa của một số thành ngữ so sánh tiếng Anh và tiếng Việt thông qua phương pháp liệt kê, so sánh đối chiếu và tổng hợp các dữ liệu. Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu về các thành ngữ này, người học ngoại ngữ phần nào nắm được một số đặc điểm khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa giữa hai nước Anh - Việt, để hỗ trợ việc học tiếng Anh và vận dụng đúng các thành ngữ này trong giao tiếp.
23 Ảnh hưởng của hình thái tiếng Anh trong tiếng Hán hiện đại / Vũ Thị Hương Trà // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 85-95 .- 420
Nhiều nghiên cứu trước đây thường có xu hướng tách biệt từ mượn tiếng Anh ra khỏi ngữ cảnh tiếng Hán và bỏ qua thực tế là nhóm từ vay mượn này không chỉ tồn tại độc lập, riêng lẻ mà chúng đã được chuyển đổi và điều chỉnh để phù hợp với đặc trưng ngữ pháp tiếng Hán. Điều này cũng có nghĩa là, tiếng Hán không chỉ tiếp nhận từ mượn tiếng Anh một cách thụ động mà qua đó đã hình thành nên các phương thức cấu tạo từ mới bằng cách phát triển kho hình vị phong phú từ tiếng Anh. Và như vậy, tiếng Anh không chỉ đóng góp một số lượng từ ngữ đáng kể vào vốn từ vựng tiếng Hán, mà còn đem lại những thay đổi nhất định ở cấp độ hình thái học. Dựa trên những dữ liệu thu thập được, bài viết phân tích một cách hệ thống những biến đổi hình thái học của từ vựng tiếng Hán trong quá trình tiếp xúc sâu rộng và lâu dài với tiếng Anh.
24 Tình thái nhận thức trong bài nghị luận tiếng Anh của sinh viên đại học / Đào Hương Trà // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 104-110 .- 420
Mục đích của bài báo này là khảo sát, nghiên cứu các dấu hiệu tình thái nhận thức được sinh viên đại học sử dụng trong bài viết nghị luận tiếng Anh. Dữ liệu cho nghiên cứu được thu thập từ 75 bài luận do sinh viên tham gia viết. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên sử dụng nhiều nhất các phương tiện tình thái nhận thức ở mức độ chắc chắn thấp. Các phương tiện ngôn ngữ mà sinh viên sử dụng để biểu đạt ý nghĩa tình thái nhận thức chưa thật sự đa dạng, chủ yếu tập trung vào động từ khuyết thiếu. Từ kết quả trên, bài báo đưa ra một vài gợi ý về việc giảng dạy cách dùng tình thái nhận thức cho người học.
25 Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ Công nghệ số tiếng Anh / Trần Quốc Việt // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 107-118 .- 420
Trên cơ sở khảo sát 2.212 thuật ngữ công nghệ số tiếng Anh bằng phương pháp thống kê, mô tả và phân tích trong ngôn ngữ học, bài viết đã xác lập các đặc điểm về hình thái và từ loại của hệ thống này. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các thuật ngữ có cấu tạo đa dạng, từ 01 đến 06 thành tố, chủ yếu dưới dạng kết cấu ngữ. Trong đó, thuật ngữ có cấu tạo là danh từ và danh ngữ đóng vai trò chủ đạo, chiếm 90,91% tổng số ngữ liệu được khảo sát.
26 Đối chiếu nhóm từ chỉ tính cách trong tiếng Việt và tiếng Anh / Phạm Thị Thuý Hồng // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 55-59 .- 420
Nhóm từ chỉ tính cách trong tiếng Việt và tiếng Anh khá phong phú, đa dạng. Về cấu trúc và cách thức cấu tạo từ mới cũng có nhiều sự khác nhau giữa hai ngôn ngữ. Bài viết này tập trung vào nghiên cứu đối chiếu cấu tạo và ngữ nghĩa của chúng trong hai ngôn ngữ trên cơ sở khảo sát số lượng, phân tích cách thức cấu tạo từ và phương thức cấu tạo nghĩa của chúng. Kết quả khảo sát cho thấy số lượng từ ngữ chỉ tính cách trong tiếng Việt nhiều hơn tiếng Anh. Nhóm từ chỉ tính cách tích cực trong tiếng Việt luôn nhiều hơn nhóm từ chỉ tính cách tiêu cực trong nhiều phạm vi và nhiều hơn số lượng từ trong tiếng Anh. Về cách thức cấu tạo, tiếng Anh thường dùng tiền tố un-, in-.. tiếng Việt sử dụng nhiều các yếu tố cấu tạo từ như: vô, bất...và dùng yếu tố “tính” + một yếu tố chỉ tính cách riêng. Những sự giống và khác nhau này giúp cho người nước ngoài học tiếng Việt và người Việt học tiếng Anh nắm được nhóm từ này một cách hệ thống, dễ dàng.
27 So sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô tiếng Anh theo lí thuyết đánh giá / Phạm Thị Phượng, Nguyễn Thị Hằng // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 69-76 .- 420
Nghiên cứu này phân tích và so sánh giọng điệu trong phần kết luận của bài báo khoa học kinh tế vi mô và vĩ mô, sử dụng khung lí thuyết Đánh giá do Martin và White (2005) đề xuất. Kết quả phân tích phần kết luận của các bài báo kinh tế viết bằng tiếng Anh trên các tạp chí uy tín cho thấy, các tác giả sử dụng Giọng điệu dị thanh cao, đặc biệt là Trao đổi và Phát biểu để tạo sự gắn kết với người đọc và thể hiện sự tự tin trong lập luận. So sánh giữa phần kết luận trong bài báo kinh tế vĩ mô và bài báo kinh tế vi mô cho thấy sự khác biệt thú vị về tần suất sử dụng một số Giọng điệu. Sự khác biệt này có thể liên quan đến bản chất của từng lĩnh vực và đối tượng độc giả mục tiêu. Nghiên cứu này đóng góp vào sự hiểu biết về cách thức các tác giả sử dụng Giọng điệu trong giao tiếp khoa học, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các yếu tố ngữ cảnh khi phân tích Giọng điệu.
28 Ngôn ngữ mạng và xu thế sử dụng tiếng Anh trên mạng (dựa trên cơ sở ngữ liệu tiếng Nga và tiếng Việt) / Ngô Thị Quyên // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 93-102 .- 420
Một trong các biểu hiện của ngôn ngữ mạng là hiện tượng sử dụng tiếng Anh dưới nhiều hình thức khác nhau. Bài báo chứng minh hiện tượng sử dụng tiếng Anh là một xu thế đang diễn ra trên trên mạng tiếng Nga và tiếng Việt. Bên cạnh đó bài báo cũng chỉ ra những điểm khác biệt trong việc sử dụng tiếng Anh trên mạng hai ngôn ngữ đến từ nguyên nhân do sự khác nhau về loại hình và hệ chữ viết.
29 Cấu trúc trừu tượng chứa hàm ý trong tiếng Việt và vận dụng trong dịch thuật Việt - Anh / Trần Thanh Dũ // .- 2024 .- Số 11a(360) .- Tr. 60-68 .- 420
Bài nghiên cứu này nhằm khảo sát và tìm hiểu cấu trúc trừu tượng chứa hàm ý, đặc trưng ngữ dụng học của các cấu trúc này trên cơ sở khảo sát các hiện tượng cụ thể trong văn học và lời nói trong giao tiếp hàng ngày. Trên cơ sở tham khảo hướng nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học gần đây, bài viết xin giới thiệu một số luận điểm và hiện tượng cụ thể của cấu trúc trừu tượng chứa hàm ý trong tiếng Việt, cách chuyển dịch câu có cấu trúc trừu tượng từ tiếng Việt sang tiếng Anh.
30 Sự kì thị giới tính đối với nữ giới trong tiếng Anh (trên cứ liệu các cuộc phỏng vấn trực tiếp với người nổi tiếng) / Nguyễn Thị Lệ Mỹ // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 23-30 .- 420
Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu sự hiện diện và phản ánh của chủ nghĩa phân biệt giới tính, từ đó khám phá mức độ mà các thành kiến về giới được thể hiện thông qua việc sử dụng tiếng Anh. Trước hết, bài viết định nghĩa chủ nghĩa phân biệt giới tính và những phương tiện biểu đạt sự phân biệt giới tính. Qua việc xác định những phương tiện biểu đạt và sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn phê phán, nghiên cứu đã phân tích hai bài phỏng vấn trực tiếp bằng tiếng Anh với hai ca sĩ nổi tiếng người Mỹ. Nghiên cứu phát hiện ra sự phân biệt giới tính cả công khai và ít trực tiếp còn tồn tại, nhưng những ngữ cảnh được lựa chọn cho thấy sự giảm dần của vấn đề này theo thời gian. Bài viết mong muốn góp phần mở rộng hiểu biết về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và bình đẳng giới.





