CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
8261 Các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, nhân viên các Trường Đại học Tư thục trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng / Trần Thế Tuân, Công Vũ Hà Mi // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 265 .- Tr. 93-102 .- 658

Động lực làm việc của cán bộ, nhân viên là một chủ đề rất đáng được quan tâm, bởi động lực làm việc đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho các cá nhân và tổ chức (Ali & cộng sự, 2012; Boeve, 2007; Brooks, 2007). Vì vậy, tạo động lực làm việc cho cán bộ, nhân viên có ý nghĩa rất lớn đối với hiệu quả hoạt động của mọi tổ chức. Xuất phát từ những lý do đó, nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ, nhân viên tại các trường đại học tư thục trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Kết quả của nghiên cứu cho thấy có 5 nhân tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của cán bộ công nhân viên tại các trường đại học tư thục của thành phố Đà Nẵng bao gồm: (i) Môi trường làm việc, (ii) Phúc lợi, chế độ chính sách; (iii) Phong cách lãnh đạo; (iv) Đào tạo và thăng tiến và (v) Tiền lương và thưởng. Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đưa ra một số khuyến nghị nhằm gia tăng động lực làm việc của người lao động trong các trường đại học tư thục tại Đà Nẵng.

8262 Dòng vốn vào Việt Nam: Vai trò của các nhân tố đẩy và nhân tố kéo / Lê Hồ An Châu, Nguyễn Thị Mai Huyên, Ngô Sỹ Nam // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 265 .- Tr. 2-13 .- 332.63

Nghiên cứu này phân tích các nhân tố thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tập trung vào hai thành phần cơ bản là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment - FDI) và vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài qua thị trường chứng khoán (Foreign Portfolio Investment – FPI). Sử dụng mô hình tự hồi quy vector cấu trúc (Structural Vector Autoregression – SVAR) với các ràng buộc ngắn hạn trên bộ dữ liệu quý giai đoạn 2000-2017, kết quả nghiên cứu cho thấy cả nhân tố kéo và nhân tố đẩy đều đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích dòng vốn vào Việt Nam. Cụ thể, khi xảy ra cú sốc sản lượng đầu ra nước ngoài, dòng vốn FDI vào Việt Nam sẽ giảm ngay, ngược lại, khi tăng trưởng GDP trong nước tăng, FDI cũng tăng ngay lập tức và đạt đỉnh vào nửa quý thứ 2. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, vốn đầu tư gián tiếp chịu ảnh hưởng tiêu cực của các cú sốc về lãi suất trong lẫn ngoài nước.

8263 Chi tiêu Chính phủ và tăng trưởng kinh tế - Phân tích từ dữ liệu cấp tỉnh ở Việt Nam / Đặng Anh Tuấn, Lê Việt An, Trịnh Thị Thúy Hồng // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 265 .- Tr. 14-23 .- 330

Những năm vừa qua, hoạt động chi ngân sách ở Việt Nam đã trải qua nhiều cung bậc khác nhau, từ thắt lưng buộc bụng trong giai đoạn suy thoái kinh tế đến việc nới lỏng chi tiêu ở thời gian sau này. Nỗ lực của các nhà hoạch định chính sách đã thể hiện qua sự phục hồi của nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng ngày càng được cải thiện. Bài báo này được thực hiện nhằm chứng minh mối quan hệ giữa 2 nhân tố trên trong giai đoạn 2006-2016. Dữ liệu bảng được thu thập từ 63 tỉnh thành trên cả nước và được phân tích bằng mô hình Generalized Method of Moments (GMM). Kết quả cho thấy tồn tại ngoại tác tích cực từ chi tiêu chính phủ lên tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, một số nhân tố vĩ mô khác như mức tăng trưởng kinh tế năm trước, lạm phát, lao động và đầu tư tư nhân được xác định có ảnh hưởng cùng chiều đến tăng trưởng kinh tế.

8264 Sử dụng công nghệ cộng tác, học tập không chính thức và thành quả công việc trong đội ảo / Huỳnh Thị Minh Châu, Nguyễn Mạnh Tuân, Trương Thị Lan Anh // .- 2019 .- Số 265 .- Tr. 24-33 .- 650

Vì đội ảo là một tổ chức xã hội hoạt động dựa trên công nghệ, thành quả của nó chịu ảnh hưởng bởi cả các yếu tố công nghệ lẫn xã hội. Bài báo này đo lường ảnh hưởng của một số yếu tố công nghệ (sự hài lòng với việc sử dụng, thói quen sử dụng, ý định tiếp tục sử dụng, mức độ sử dụng công nghệ cộng tác) và một yếu tố xã hội (mức độ học tập không chính thức) lên thành quả công việc của thành viên đội ảo. Kết quả cho thấy mức độ sử dụng công nghệ cộng tác và học tập không chính thức đều có ảnh hưởng tích cực lên thành quả công việc; sự hài lòng với việc sử dụng, thói quen sử dụng, ý định tiếp tục sử dụng giải thích được 33,6% biến thiên của mức độ sử dụng công nghệ cộng tác; và các yếu tố công nghệ và xã hội nói trên giải thích được 16,5% biến thiên thành quả công việc.

8265 Quan điểm và giải pháp đột phá để Việt Nam tham gia có hiệu quả CPTPP, FTA thế hệ mới và các FTA truyền thống / Đỗ Đức Bình, Nguyễn Thị Thúy Hồng, Phạm Quang Trung // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 266 .- Tr. 2-11 .- 658

Bài viết này tổng quan các FTA Việt Nam đã và đang đàm phán, tham gia đàm phán, ký và thực thi, đề cập một số cam kết và nhóm cam kết chủ yếu của một số thành viên trong Hiệp định CPTPP về thuế và một số mặt hàng cho Việt Nam. Bài viết chỉ ra cơ hội đối với Việt Nam khi tham gia CPTPP và những hạn chế, bất cập chủ yếu của Việt Nam trong hội nhập và tham gia các FTA thời gian qua. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất các quan điểm và một số giải pháp đột phá để Việt Nam tham gia có hiệu quả CPTPP, các FTA thế hệ mới và truyền thống đang và sẽ thực thi đến năm 2030.

8266 Phân tích các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam và đô la Mỹ: Sử dụng cách tiếp cận tiền tệ / Bùi Duy Hưng // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 266 .- Tr. 12-21 .- 332.4

Bài viết này sử dụng cách tiếp cận tiền tệ (Monetary approach to exchange rate - MAER) đối với tỷ giá để phân tích các yếu tố tác động đến việc xác định tỷ giá giữa đồng Việt Nam (VND) và đô la Mỹ (USD). Kết quả phân tích cho thấy dù Ngân hàng Nhà nước thực hiện quản lý tỷ giá thông qua tỷ giá chính thức (trước năm 2016), tỷ giá trung tâm (từ năm 2016 đến nay), và biên độ giao dịch nhưng về cơ bản có mối quan hệ dài hạn giữa tỷ giá và các biến thuộc cách tiếp cận MAER. Tỷ giá vẫn được xác định phù hợp với các cách tiếp cận tiền tệ khác nhau đối với tỷ giá. Trong đó cung tiền và thu nhập là 2 yếu tố quan trọng có tác động đến tỷ giá giữa VND và USD.

8267 Lợi ích kinh tế phân bổ giữa các bên trong đàm phán kinh tế quốc tế / Nguyễn Thường Lạng // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 266 .- Tr. 22-31 .- 330

Bài viết phân tích lợi ích kinh tế phân bổ giữa các bên đàm phán kinh tế quốc tế theo mô hình cung - cầu mà kinh tế học gọi là lợi ích kinh tế trong đàm phán. Lợi ích đàm phán được phân bổ theo các phương thức khác nhau bao gồm một bên được lợi hoàn toàn và một bên chịu thiệt hoàn toàn, một bên được lợi và một bên hòa vốn, và cả hai bên đều thu được lợi. Dựa vào các phương thức phân bổ lợi ích xác định, bài viết gợi ý lựa chọn kịch bản đàm phán phù hợp với điều kiện mỗi bên và đưa ra lời khuyên chuẩn bị năng lực và kỹ năng để đàm phán thành công.

8268 Chính phủ trở thành khách hàng của Startup: Bước đột phá hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo / Trần Thị Hồng Liên // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 266 .- Tr. 32-41 .- 658

Các chính phủ đang tích cực hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo (startup) để phát triển kinh tế. Tạo điều kiện cho startup tham gia mua sắm công là một công cụ được nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ sử dụng và các bằng chứng thực nghiệm ủng hộ lợi ích của cách làm này. Chính phủ và chính quyền các địa phương tại Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ startup trong khuôn khổ chính sách chung cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, các hỗ trợ này chưa thực sự hữu hiệu với các startup có bản chất hoàn toàn khác biệt so với doanh nghiệp nhỏ thông thường. Đặc biệt, cách thức mua sắm công nặng tính thủ tục cứng nhắc và kéo dài hiện nay chưa thích hợp cho startup tham gia. Sự đổi mới toàn diện việc tổ chức mua sắm công với nội dung cụ thể như thay đổi cách thức giao kết hợp đồng và sử dụng cách thức truyền thông mới về nhu cầu mua sắm công thích hợp với startup sẽ là bước đột phá thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo.

8269 Mối quan hệ giữa sở hữu Nhà nước và chi phí nợ tại các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam / Nguyễn Hải Yến // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 266 .- Tr. 42-52 .- 658

Nghiên cứu này tìm hiểu sự tác động của sở hữu nhà nước đến chi phí nợ của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2009-2017. Phương pháp ước lượng GMM hệ thống được sử dụng để kiểm soát nội sinh, và các khuyết tật khác trong mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy doanh nghiệp có sở hữu nhà nước sẽ giảm chi phí nợ. Đồng thời, ở các tỉnh kém phát triển, các doanh nghiệp có sở hữu nhà nước sẽ giảm chi phí nợ nhiều hơn so với các doanh nghiệp tương đồng hoạt động ở các tỉnh phát triển mạnh. Cuối cùng, sở hữu nhà nước của địa phương tại các doanh nghiệp sẽ giúp giảm chi phí nợ nhiều hơn so với sở hữu nhà nước của các cơ quan trung ương trực thuộc chính phủ.

8270 Trải nghiệm, giá trị cảm nhận và sự hài lòng của khách hàng / Trần Thị Hiền, Ngô Thị Thủy, Nguyễn Hồng Quân // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 266 .- Tr. 53-62 .- 658

Nghiên cứu trả lời câu hỏi trải nghiệm của khách hàng sử dụng dịch vụ khách sạn tác động như thế nào tới mức độ hài lòng của họ. Sử dụng phương pháp phân tích nội dung đối với 803 phản ánh của khách hàng đã từng lưu trú ở khách sạn Nikko tại Nhật Bản và Việt Nam đăng trên các trang mạng đặt phòng, kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa sự hài lòng và trải nghiệm của khách hàng. Trong khi các yếu tố về địa điểm, chất lượng phục vụ, đồ ăn, phòng, dịch vụ và tiện ích bổ sung, vốn là những thuộc tính đem lại giá trị cảm nhận về mặt kinh tế cho khách hàng (value for money) có tác động mạnh hơn so với yếu tố mang đến giá trị cảm nhận về mặt cảm xúc (emotional value). Song tác động từ giá trị khách hàng cảm nhận được về mặt cảm xúc vẫn có ý nghĩa tới mức độ hài lòng. Kết quả nghiên cứu gợi ý nhà quản lý khách sạn cần làm rõ hơn những giá trị về mặt kinh tế (vật chất) và về mặt cảm xúc (tinh thần) để khách hàng có thể cảm nhận được nhiều hơn, từ đó khách hàng sẽ hài lòng hơn với quyết định mua của mình.