CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
8091 Một số vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch ở tỉnh Quảng Ngãi / Trần Thị Trương, Nguyễn Quốc Tuấn // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 89-103 .- 658
Nguồn nhân lực được coi là thành phần quan trọng nhất của ngành công nghiệp du lịch. Phát triển nguồn nhân lực là vấn đề cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Do đó, không thể phủ nhận tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực đối với ngành công nghiệp du lịch, đặc biệt đối với ngành du lịch còn non trẻ của tỉnh Quảng Ngãi. Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu từ việc phỏng vấn các cơ quan quản lý Nhà nước; Hiệp hội du lịch; Nhà giáo dục dựa trên 6 lĩnh vực (1) lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực; (2) vai trò của khu vực công và tư nhân; (3) giáo dục và đào tạo trong ngành du lịch; (4) các vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch;(5) các chương trình đào tạo ngành du lịch; (6) các cơ sở đào tạo du lịch. Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, bài viết đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi ở 3 nội dung: quản trị nguồn nhân lực; cấu trúc hành chính và những vấn đề chung.
8092 Thể chế hay địa lý là yếu tố quyết định phát triển kinh tế? / Hoàng Xuân Trung // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 118-123 .- 330
Sử dụng số liệu về chỉ số cạnh tranh năng lực cấp tỉnh như là biến đại diện cho thể chể và tính toán chỉ số độ ghồ ghề ở các tỉnh của Việt nam, nghiên cứu này chỉ ra rằng những tỉnh có thể chế tốt, kinh tế phát triển lại là những tỉnh có điều kiện địa lý thuận lợi. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, một số tỉnh luôn xếp hạng rất thấp về chất lượng thể chế trong nhiều năm lại là những tỉnh có điều kiện địa lý không thuận lợi. Do đó, việc phát triển kinh tế ở những tỉnh khó khăn này cần phải sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ trong việc hỗ trợ các tỉnh này xây dựng cơ sở hạ tầng tốt, thúc đẩy trình độ giáo dục và mạng lưới y tế toàn diện, chứ không phải chỉ tập trung quá nhiều vào việc thay đổi chất lượng thể chế ở những tỉnh này.
8093 Mức giá sẵn lòng trả cho chương trình bảo tồn hệ sinh thái rừng u minh của người dân thành thị tỉnh Kiên Giang / Huỳnh Việt Khải, Nguyễn Phi Vân, Phan Thị Thiên Nhi // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 125-134 .- 658
Bài viết này có thể hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách xây dựng các chính sách quản lý đất ngập nước hiệu quả và bền vững trong rừng U Minh và cung cấp thông tin để ước tính thiệt hại phúc lợi do giảm hệ sinh thái và phân tích sự đánh đổi giữa đa dạng sinh học và kinh tế. Phương pháp thí nghiệm lựa chọn (Choice Experiment) được sử dụng để ước tính mức giá sẵn lòng trả của người dân thành thị ở tỉnh Kiên Giang đối với chương trình bảo tồn hệ sinh thái (HST) rừng U Minh. Hàm hữu dụng gián tiếp và mức sẵn lòng chi trả cho các thuộc tính bảo tồn hệ sinh thái đã được áp dụng bằng cách sử dụng phương pháp mô hình hóa lựa chọn với phân tích mô hình logit đa thức. Nghiên cứu cho thấy người dân thành thị ở tỉnh Kiên Giang chấp nhận sẵn sàng trả thêm 1.350 đồng thông qua hóa đơn tiền nước hộ gia đình hàng tháng để có thêm 1% thảm thực vật khỏe mạnh, 1.120 đồng cho việc giảm 1% số người bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm không khí, 15.236 đồng cho việc tăng cơ hội nghiên cứu giáo dục cho thế hệ tương lai ở mức cao và 214 đồng cho một người nông dân được đào tạo lại.
8094 Thực trạng giá nhóm cổ phiếu doanh nghiệp vận tải biển việt nam 2015 - 2018 / Huỳnh Chí Giỏi // .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 72-79 .- 658
Bài báo muốn giới thiệu đến độc giả thực trạng biến động giá cả của nhóm cổ phiếu các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh. Hay còn gọi là sàn HOSE gồm các mã cổ phiếu PVT (Tổng CTCP Vận tải Dầu khí), VIP (CTCP Vận tải Xăng dầu VIPCO), VTO (CTCP Vận tải Xăng dầu VITACO), VOS (CTCP Vận tải biển Việt Nam), GMD (CTCP Gemadept) trong giai đoạn bốn năm từ năm 2015 đến năm 2018. Thông qua những phân tích từ tổng quan đến chi tiết dựa trên các biểu đồ phân tích kỹ thuật giá cùng với những phân tích cơ bản về tình hình vi mô của từng mã cổ phiếu và thực trạng vĩ mô, độc giả sẽ có cái nhìn sâu hơn về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả sinh lời, hiệu quả sử dụng vốn mà còn tác động đến giá trị cổ phiếu của chính doanh nghiệp đó, cũng như sự tác động từ tâm lý kỳ vọng của nhà đầu tư đến biến động của thị giá kể cả cơ hội đầu tư nhóm cổ phiếu này.
8095 Thực trạng và giải pháp cải thiện hoạt động logistics trong ngành sản xuất xi măng Việt Nam / Phạm Văn Tài // .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 80-86 .- 658
Ngành sản xuất xi măng ở nước ta đã phát triển rất mạnh trong những năm qua và đứng hàng thứ 3 thế giới với công suất lắp đặt khoảng 148 triệu tấn/năm, được sản xuất bởi trên 80 nhà máy trên cả nước. Để phục vụ cho sản xuất và tiêu thụ xi măng, các hoạt động logistics rất phát triển trong những năm qua, nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế và thách thức. Nghiên cứu này phân tích tình hình dịch vụ logistics trong ngành xi măng ở Việt Nam (VN) như thế nào, những ưu điểm, hạn chế cũng như nguyên nhân phát sinh trong dịch vụ logistics ngành công nghiệp xi măng là gì. Trên cơ sở phân tích đó, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị hoàn thiện các hoạt động logistics phục vụ ngành sản xuất xi măng của Việt Nam trong thời gian tới.
8096 Lối sống của doanh nhân và việc hoàn thiện các chế định bắt buộc / Nguyễn Hoàng Phương // .- 2019 .- Số 33 .- Tr. 105-110 .- 658
Để lối sống doanh nhân ngày càng hoàn thiện, nhà nước cần xây dựng những chuẩn mực mới về doanh nhân phù hợp với chuẩn mực xã hội và nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Đó là những doanh nhân có ý chí vươn lên, có lòng tự tôn dân tộc, có năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập, có đạo đức trong kinh doanh; biết kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích xã hội; sống trong sạch, lành mạnh, quan hệ tốt với người lao động; tăng cường và đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền để thay đổi nhận thức của xã hội đối với doanh nhân, cũng như tạo hình ảnh doanh nhân trong chế độ Xã hội Chủ nghĩa, hướng doanh nhân không ngừng hoàn thiện mình để trở thành những doanh nhân chân chính. Các doanh nhân cần tích cực tham gia các hoạt động giữa doanh nhân với nhau, cởi mở trong giao tiếp, nâng cao tinh thần đoàn kết giữa các doanh nhân, loại bỏ tư tưởng lợi ích cá nhân, tham gia các chương trình đào tạo và đào tạo lại, bổ sung kiến thức chuyên môn, không ngừng học tập, tuân thủ và trau dồi thêm hiểu biết về luật pháp để tránh những sai phạm trong kinh doanh ảnh hưởng đến cá nhân, doanh nghiệp, đất nước, có ý thức trách nhiệm với cộng đồng và phải biết quản lý và có tầm nhìn chiến lược, phải có sự sáng tạo riêng, tạo sự khác biệt, đam mê, ổn định trong tư duy và nhạy bén trong hành động. Doanh nhân có tầm phải là người tổ chức được bộ máy, dùng được nhân sự và điều hành hiệu quả. Nhìn chung, lối sống tốt chính là nền tảng cho sự phát triển trong công việc cũng như bộ mặt của xã hội, vì thế một thế hệ doanh nhân tốt cũng là biểu trưng cho một xã hội phát triển, văn minh và tiến bộ đồng thời hoàn thiện định chế bắt buộc nhằm đóng góp nhiều cho đất nước và xã hội.
8097 Nghiên cứu các nhân tố tác động đến mức độ hài lòng của giảng viên trong trường đại học / Bùi Thị Ngọc, Lê Thị Tú Oanh // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 239 .- Tr. 100-108 .- 658
Hiện nay, chất lượng giáo dục đại học nói chung chưa đáp ứng với sự phát triển của xã hội. Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này bắt nguồn từ việc giảng viên chưa hài lòng so với kỳ vọng của họ. Bài viết này nghiên cứu các nhân tố tác động đến mức độ hài lòng của giảng viên trong trường đại học, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm thu hút các giảng viên giỏi. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 313 giảng viên của các trường đại học tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố tác động đền mức độ hài lòng của giảng viên gồm các quy định liên quan đến giảng dạy và nghiên cứu khoa học, thu nhập và chính sách phúc lợi; cơ sở vật chất của trường đại học, trong đó, các quy định về giảng dạy và nghiên cứu khoa học có ảnh hưởng lớn nhất. Đây là cơ sở cho các giải pháp đề xuất nhằm gia tăng mức độ hài lòng của giảng viên trong công việc.
8098 Phân tích hành vi ứng phó trong điều kiện không chắc chắn về việc làm của nhân viên ngân hàng tại thành phố Cần Thơ / Huỳnh Trường Huy, Hồ Hoàng Trúc Phương // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 239 .- Tr. 92-99 .- 332.12
Nghiên cứu này phân tích hành vi ứng phó trong điều kiện không chắc chắn về việc làm của 217 nhân viên được khảo sát từ 23 chi nhánh ngân hàng thương mại tại thành phố Cần Thơ. Kết quả phân tích chỉ ra rằng nhân viên nữ thể hiện ưu thế hơn so với đồng nghiệp nam về số lượng nhân viên do đặc điểm công việc, nhưng họ lại ít thể hiện dự định chuyển đổi việc làm mới trong điều kiện không chắc chắn về việc làm. Đáng chú ý, chi phí cơ hội và cơ hội phát triển nhân lực là những yếu tố tác động đến dự định chuyển việc hay không. Đối với nhóm nhân viên có dự định chuyển việc ra khỏi ngành ngân hàng, các yếu tố như áp lực công việc, sự cam kết với ngân hàng, và giới tính được nhân viên quan tâm nhất. Hơn nữa, mối quan hệ xã hội và kinh nghiệm địa bàn có đóng góp tích cực dự định chuyển việc.
8099 Ảnh hưởng của việc bồi dưỡng nghiệp vụ đến sự thay đổi năng lực làm việc: Nghiên cứu trường hợp tại hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam / Trần Quang Tiến // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 239 .- Tr. 84-91 .- 658
Vận dụng lý thuyết đánh giá chương trình đào tạo của Kirkpatrick, và phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu này đo lường mức độ ảnh hưởng của các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ đến sự thay đổi kết quả và năng lực làm việc của đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Sử dụng số liệu khảo sát hơn 200 cán bộ làm việc tại cấp xã, cấp huyện và cấp tỉnh đang tham gia khóa học, kết hợp với thông tin kiểm tra chéo từ các cán bộ quản lý trực tiếp, bài viết sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính chuẩn hóa phát hiện cả ba nhóm yếu tố cơ bản: Cơ quan (môi trường làm việc); cá nhân và gia đình; và sự tham gia vào các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ đều tác động tích cực, có ý nghĩa thống kê đến sự thay đổi kết quả, năng lực làm việc của công chức. Trong đó, ảnh hưởng của các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ là rất rõ ràng, với mức độ lớn hơn ảnh hưởng của các nhóm yếu tố khác.
8100 Một số tiền tố và hậu tố của hành vi tham gia của khách hàng / Nguyễn Mạnh Tuân, Huỳnh Thị Minh Châu // Kinh tế & phát triển .- 2017 .- Số 239 .- Tr. 47-55 .- 658
Sự tham gia của khách hàng hiện là chủ đề được quan tâm của lĩnh vực dịch vụ. Dưới góc độ nguồn lực xã hội, bài viết này xem xét mức độ tác động của các tiền tố là vốn xã hội và trao đổi xã hội lên hành vi tham gia của khách hàng và từ đó lên sự hài lòng, truyền miệng tích cực và giá trị khách hàng. Phân tích cấu trúc tuyến tính được thực hiện ở dịch vụ đào tạo với 258 mẫu dữ liệu học viên trên địa bàn Tp.HCM đã ủng hộ 8 trên tổng số 10 giả thuyết nghiên cứu đề nghị. Kết quả cho thấy hai thành phần vốn nhận thức và vốn quan hệ (của tiền tố vốn xã hội) và hai thành phần cảm nhận hỗ trợ từ nhân viên giao dịch và cảm nhận hỗ trợ từ khách hàng (của tiền tố trao đổi xã hội) có tác động thuận chiều lên hành vi tham gia và cả hai tiền tố này có thể giải thích đến 68.8 phần trăm biến thiên của hành vi tham gia.





