CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
8081 Sự phát triển của thị trường chứng khoán và tăng trưởng đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam / Lâm Chí Dũng, Nguyễn Trần Thuần // Khoa học Kinh tế ( TL Điện tử) .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 1-8 .- 332.64

Nghiên cứu này khảo sát tác động của sự phát triển thị trường chứng khoán đến tăng trưởng đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam. Bằng các phương pháp ước lượng phù hợp với bộ dữ liệu bảng không cân bằng gồm 577 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán HOSE và HNX giai đoạn 2000-2015, nghiên cứu này rút ra một số kết luận chính. Thứ nhất, sự phát triển của thị trường chứng khoán có thể thúc đẩy tăng trưởng đầu tư của các doanh nghiệp. Thứ hai, khi phân tích sâu các khía cạnh phát triển của thị trường chứng khoán, kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả hoạt động là một trong những yếu tố chính qua đó thị trường chứng khoán tác động tích cực đến tăng trưởng đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.

8082 Cấu trúc kỳ hạn nợ, các mâu thuẫn đại diện và sự đa dạng kỹ năng xã hội và tình cảm của các Công Ty Gia Đình1859 / Lê Thị Lanh, Ngô Văn Toàn // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 9-22 .- 332.1

Nhằm nghiên cứu tác động của đại diện đặc biệt, các đặc điểm kỹ năng xã hội và tình cảm của công ty gia đình đối với lựa chọn kỳ hạn nợ,nghiên cứu này tiến hành xem xét các quan hệ giữa chủ sở hữu và người quản lý, cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, cổ đông chi phối gia đình và người bên ngoài gia đình, chủ sở hữu và chủ nợ. Phân tích cho thấy khuynh hướng công ty gia đình sử dụng nợ dài hạn phụ thuộc vào thế hệ lãnh đạo tiếp theo, cổ đông chi phối gia đình, động cơ chiếm hữu các cổ đông thiểu số, người bên ngoài gia đình và sự đa dạng kỹ năng xã hội và tình cảm. Tác động của yếu tố vĩ mô kết hợp với các đặc điểm thuộc về công ty liên quan đến các mâu thuẫn đại diện và sự đa dạng kỹ năng xã hội và tình cảm về quyết định nợ của các công ty gia đình so với quyết định của công ty phi gia đình. Do tầm quan trọng của việc đại diện và hoạt động rộng rãi của các công ty gia đình, các kết quả thực nghiệm có thể giúp chính phủ thông qua các chính sách cụ thể để hỗ trợ tốt cho công ty gia đình về khía cạnh kinh tế và phi kinh tế.

8083 Các nhân tử và chỉ số liên kết của nền kinh tế Việt Nam / Nguyễn Mạnh Toàn, Ông Nguyên Chương, Nguyễn Thị Hương // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 23-30 .- 330

Bài báo áp dụng mô hình cân đối liên ngành mở rộng để đo lường, phân tích sự tác động của một ngành kinh tế đến sản lượng, thu nhập trong ngành đó cũng như đến các ngành khác và toàn bộ nền kinh tế. Sử dụng bảng I/O năm 2012 và 2016 của Việt Nam và các số liệu liên quan khác để xác định các nhân tử sản lượng, thu nhập và các chỉ số liên kết của 21 ngành kinh tế trong mối tương quan cơ cấu kinh tế ngành. Kết quả cho thấy các ngành Sản xuất các sản phẩm hóa chất; Sản xuất và chế biến kim loại và các sản phẩm kim loại; Sản xuất thiết bị, máy móc vẫn duy trì là những ngành có khả năng tạo ra sự thay đổi lớn nhất đối với sản lượng quốc gia. Từ đó, một số hàm ý chính sách được đề xuất nhằm thúc đẩy mức độ lan tỏa của các ngành kinh tế đó.

8084 Tác động của các hiệp định thương mại tự do (fta) đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2017-1859 / Hoàng Thanh Hiền, Huỳnh Thị Diệu Linh // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 31-40 .- 332.63

Sau công cuộc đổi mới kinh tế bắt đầu từ năm 1986, Việt Nam đã ký kết rất nhiều Hiệp định Thương mại tự do (FTA). FTA sớm nhất của Việt Nam chính là AFTA vào năm 1996, một năm sau khi gia nhập ASEAN – nay đã được thay thế bằng Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Tiếp đến, năm 2007, Việt Nam gia nhập trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) và chính thức bắt tay vào công cuộc tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Trong khi các nghiên cứu hiện nay về tác động của FTA chủ yếu tập trung vào thương mại song phương giữa các thành viên, bài viết này nhằm đánh giá tác động của FTA lên việc thu hút vốn FDI tại Việt Nam. Bài viết sử dụng số liệu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong giai đoạn 2005 – 2017 từ 24 quốc gia vào Việt Nam và áp dụng knowledge-capital model trong việc đánh giá tác động của FTA.

8085 Thị trường mua bán nợ của Việt Nam – thực trạng và giải pháp- / Nguyễn Thị Minh Hương // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 41-49 .- 658

Sự hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ mà cụ thể là nợ xấu của doanh nghiệp là yêu cầu khách quan hiện nay ở Việt Nam. Sự thiếu vắng một thị trường mua bán nợ được cho là nút thắt chính trong công cuộc xử lý nợ xấu hiện nay. Theo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, nợ xấu trong hệ thống ngân hàng năm 2017 ở mức dưới 3% nhưng thực chất nợ xấu toàn nền kinh tế vẫn còn ở mức cao. Tuy nhiên, hoạt động của thị trường mua bán nợ vẫn còn nhiều hạn chế, cần có giải pháp điều chỉnh để đạt hiệu quả cao hơn. Trong phạm vi bài báo này, tác giả tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển thị trường mua bán nợ tại Việt Nam.

8086 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị môi trường trong các doanh nghiệp sản xuất ở vùng duyên hải miền Trung Việt Nam1859 / Phan Đức Dũng, Lê Thị Diệu Linh // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 50-66 .- 658

Doanh nghiệp trong vùng duyên hải miền trung chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh thấp, phần lớn các doanh nghiệp mới tham gia vào một số công đoạn của mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, chưa có nhiều sản phẩm chủ lực có thương hiệu tầm cỡ quốc gia và quốc tế. Để phát triển bền vững, các doanh nghiệp phải có các cam kết bảo vệ môi trường nhằm xác định chi phí môi trường liên quan đến chuỗi giá trị theo mô hình kế toán chi phí. Dựa vào các lý thuyết nền tảng và các nghiên cứu trước đây trên thế giới về các nhân tố tác động việc vận dụng EMA trong doanh nghiệp, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu ban đầu bao gồm 5 nhân tố tác động việc vận dụng EMA trong doanh nghiệp sản xuất ở vùng duyên hải miền trung Việt Nam gồm nhân tố đặc điểm doanh nghiệp, nhân tố chi chí cho việc tổ chức EMA, nhân tố năng lực của kế toán viên, nhân tố nhận thức của nhà quản lý, nhân tố áp lực thể chế. Tác giả áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng, quá trình thực hiện nghiên cứu bao gồm hai bước chính: (1) nghiên cứu tổng quát và (2) nghiên cứu chi tiết.

8087 Tác động của bất ổn chính sách kinh tế thế giới đến giá cổ phiếu: nghiên cứu ở các nền kinh tế mới nổi khu vực Châu Á / Nguyễn Thị Mai Huyên, Ngô Sỹ Nam // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 67-77 .- 658

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thống kê, phân tích và mô hình tự hồi quy vector (VAR) để tìm ra tác động của sự bất ổn trong chính sách kinh tế thế giới đến giá cổ phiếu của 7 quốc gia mới nổi trong khu vực Châu Á (Hồng Kông, Hàn Quốc, Việt Nam, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan) từ tháng 7/2000 đến tháng 02/2018. Kết quả thực nghiệm cho thấy những thay đổi trong chính sách kinh tế thế giới có tác động ngược chiều lên giá cổ phiếu ở Hồng Kông, Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia, Philippines và Thái Lan từ 6-9 tháng sau khi có cú sốc xảy ra, tuy nhiên, nghiên cứu lại không tìm thấy kết quả tương tự khi xem xét đến Việt Nam.

8088 Ảnh hưởng của hiệu quả quản trị tồn kho lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam1531 / Đoàn Vinh Thăng, Phạm Thị Diễm Hương // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 78-88 .- 658

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của hiệu quả quản trị tồn kho lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dựa trên dữ liệu của 19 doanh nghiệp ngành dệt may trong giai đoạn 2014 – 2017, kết quả ước lượng bằng mô hình hồi quy cho thấy rằng hiệu quả quản lý hàng tồn kho và khả năng sinh lời có mối quan hệ đồng biến. Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số khuyến nghị về công tác quản trị tồn kho được đề xuất nhằm tăng khả năng sinh lời cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.

8089 Một số vấn đề phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch ở tỉnh Quảng Ngãi / Trần Thị Trương, Nguyễn Quốc Tuấn // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 89-103 .- 658

Nguồn nhân lực được coi là thành phần quan trọng nhất của ngành công nghiệp du lịch. Phát triển nguồn nhân lực là vấn đề cần thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập hiện nay. Do đó, không thể phủ nhận tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực đối với ngành công nghiệp du lịch, đặc biệt đối với ngành du lịch còn non trẻ của tỉnh Quảng Ngãi. Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu từ việc phỏng vấn các cơ quan quản lý Nhà nước; Hiệp hội du lịch; Nhà giáo dục dựa trên 6 lĩnh vực (1) lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực; (2) vai trò của khu vực công và tư nhân; (3) giáo dục và đào tạo trong ngành du lịch; (4) các vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong ngành du lịch;(5) các chương trình đào tạo ngành du lịch; (6) các cơ sở đào tạo du lịch. Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, bài viết đề xuất một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ngãi ở 3 nội dung: quản trị nguồn nhân lực; cấu trúc hành chính và những vấn đề chung.

8090 Thể chế hay địa lý là yếu tố quyết định phát triển kinh tế? / Hoàng Xuân Trung // .- 2019 .- Số 7 .- Tr. 118-123 .- 330

Sử dụng số liệu về chỉ số cạnh tranh năng lực cấp tỉnh như là biến đại diện cho thể chể và tính toán chỉ số độ ghồ ghề ở các tỉnh của Việt nam, nghiên cứu này chỉ ra rằng những tỉnh có thể chế tốt, kinh tế phát triển lại là những tỉnh có điều kiện địa lý thuận lợi. Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, một số tỉnh luôn xếp hạng rất thấp về chất lượng thể chế trong nhiều năm lại là những tỉnh có điều kiện địa lý không thuận lợi. Do đó, việc phát triển kinh tế ở những tỉnh khó khăn này cần phải sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ trong việc hỗ trợ các tỉnh này xây dựng cơ sở hạ tầng tốt, thúc đẩy trình độ giáo dục và mạng lưới y tế toàn diện, chứ không phải chỉ tập trung quá nhiều vào việc thay đổi chất lượng thể chế ở những tỉnh này.