CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
7731 Chất lượng dịch vụ cung cấp nước sạch tại Trung tâm Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Bình Thuận / Nguyễn Ngọc Trắng // .- 2018 .- Số 1 .- Tr. 252-257 .- 658
Nước ngọt là tài nguyên có tái tạo, nhưng sử dụng phải cân bằng nguồn dự trữ và tái tạo, để tồn tại và phát triển sự sống lâu bền. Giới chuyên môn cũng nhấn mạnh thêm rằng việc xóa đói nghèo, phổ cập giáo dục tiểu học và giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ sẽ rất khó khăn nếu không giải quyết vấn đề nước sạch. Nước sạch cho người dân là nhu cầu chính đáng. Trong những năm gần đây, nhiều nơi trong tỉnh Bình Thuận không có mưa hoặc có ngày có mưa nhỏ vài nơi, lượng mưa không đáng kể (phổ biến từ 0 - 2mm). Trước tình trạng trên, UBND tỉnh Bình Thuận chỉ đạo Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn tập trung thi công một số công trình cấp bách nhằm đưa nguồn nước về phục vụ các nhà máy, cung cấp nước sạch cho người dân. Trong bài viết này, tác giả sẽ đề cập đến chất lượng địch vụ cung cấp nước sạch tại Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Bình Thuận, đồng thời có những giải pháp cải thiện hơn nữa trong việc cung cấp nước sạch, phục vụ đời sống của người dân.
7732 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ hành chính công tại UBND phường Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng / Lê Anh Tuấn // .- 2018 .- Số 1 .- Tr. 240-245 .- 658
Xác định các yếu tố có ảnh hưởng đến sự hài lòng của ngựời dân đối với dịch vụ hành chính công tại UBND phường Thuận Phước, thành phố Đà Nẵng. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp trên cơ sở khảo sát 350 người dân ở nhiều độ tuổi, nghề nghiệp khác nhau và đặc biệt trong các lĩnh vực dịch vụ hành chính công khác nhau, với mô hình giả thuyết có 5 nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân, gồm: (1) Sự tin cậy, (2) Cơ sở vật chất, (3) Nhân viên, (4) Thủ tục hành chính, (5) Chi phí.
7733 Một số bất cập khỉ ứng dụng tháp nhu cầu của Maslow A. trong quản trị nhân lực tại các doanh nghiệp khai thác than hầm lò khu vực cẩm Phả / Lê Thị Thu Hường, Phan Thị Thùy Linh, Nguyễn Văn Thưởng // .- 2018 .- Số 1 .- Tr. 228-233 .- 658
Những đóng góp của Abraham Maslow trong lĩnh vực nghiên cứu về nhu cầu của con người là rất lớn, song lý thuyết nhu cầu với tháp nhu cầu năm thang bậc của ông vẫn còn những hạn chế nhất định khi vận dụng vào thực tiễn, đặc biệt là trong hoạt động quản lý nhân sự - tìm hiểu nhu cầu, nắm bắt động cơ, tạo động lực cho người lao động trong công việc. Bài viết tập trung phân tích, chỉ ra những bất cập khi ứng dụng tháp nhu cầu của Abraham Maslow trong quản trị nhân lực tại các doanh nghiệp khai thác than hầm lò khu vực Cẩm Phả, đồng thời đề xuất một số hướng giải quyết nhằm khắc phục những bất cập này.
7734 Đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bên vững các làng nghề tại huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định / Mai Thị Lụa // .- 2018 .- Số 1 .- Tr. 224-227 .- 658
Trong quá trình hình thành và phát triển của Việt Nam, lịch sử ghi lại có rất nhiều làng nghề đã xuất hiện từ hàng trăm năm thậm chí hàng nghìn năm và vẫn còn nổi tiếng tới ngày nay. Mỗi làng nghề lại mang những nét rất riêng biệt và có giá trị rất to lớn, đặc biệt là giá trị văn hóa góp phần vào sự trường tồn của dân tộc. Không những thế, việc duy trì và phát triển làng nghề còn có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Nam Định được coi là mảnh đất giàu truyền thống, đặc biệt huyện Hải Hậu là vùng đất đa nghề. Các làng nghề ở Hải Hậu đã tồn tại cùng với sự phát triển của xã hội, đời sống cộng đồng làng xã. Tuy nhiên, bên cạnh các mặt tích cực mà làng nghề mang lại cho kinh tế, xã hội của huyện thì vẫn còn những mặt tồn tại cần khắc phục kịp thời để đưa làng nghề của huyện phát triển bền vững hơn nữa.
7735 Nông nghiệp công nghệ cao - Bài học từ Israel và Hà Lan / Bùi Thị Thảo Hiền // .- 2018 .- Số 1 .- Tr. 218-223 .- 658
Nông nghiệp là cốt lõi của nền kinh tế Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Với tốc độ công nghiệp hóa hiện nay, đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp dần, nhưng nhu cầu về nông sản ngày một tăng lên về cả số lượng và chất lượng. Do đó, việc áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp để tăng năng suất và chất lượng là điều thiết yếu. Để phát triển nông nghiệp công nghệ cao cần có những yếu tố, như: nhân lực cấp cao (nhà nghiên cứu), nhân lực cấp trung (các kỹ sư nông nghiệp vận hành, ứng dụng, chuyển giao), nhân lực cấp thấp (lao động có tay nghề - nông dân). Trong bài viết này, tác giả nêu lên tầm quan trọng và chiến lược phát triển nhân lực - đặc biệt là nhân lực cấp trung để cung cấp cho việc vận hành, ứng dụng và chuyển giao công nghệ cho nông dân nước ta, bài học từ Israel và Hà Lan.
7736 Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của các doanh nghiệp ngành May Việt Nam / Đinh Thị Hương // .- 2018 .- Số 1 .- Tr. 211-217 .- 658
Thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của các doanh nghiệp ngành May Việt Nam là yêu cầu quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì và nâng cao chất lượng lao động, từ đó ổn định sản xuất kinh doanh, đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Bài viết phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của các doanh nghiệp ngành May Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động của các doanh nghiệp may Việt Nam trong thời gian tới.
7737 Tác động của internet đến sinh viên Trường Đại học Đà Lạt hiện nay / Trần Thị Ái Vân // .- 2018 .- Số 1 .- Tr. 193-198 .- 658
Internet đã từ lâu trở thành phương tiện không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta. Đối tượng sử dụng Internet ngày càng đa dạng, nhưng tập trung chủ yếu ở lứa tuổi thanh thiếu niên, trong đó có học sinh, sinh viên. Đối với sinh viên cả nước nói chung và sinh viên Trường Đại học Đà Lạt nói riêng đã phát huy được những tích cực của Internet mang lại, tuy nhiên hiện nay xuất hiện bộ phận không nhỏ sinh viên đang có dấu hiệu “nghiện” Internet, dẫn đến học tập sa sút, tác động tiêu cực đến nhân cách, chuẩn mực đạo đức, giao tiếp ứng xử. Chính việc sử dụng Internet không hợp lý, lạm dụng phương tiện này làm xuất hiện những bất cập trong ý thức học tập, suy nghĩ và lối hành xử của một bộ phận sinh viên trong trường, trở thành vấn đề nóng, đặt ra trách nhiệm to lớn cho nhà trường, gia đình và cả xã hội.
7738 Bàn về kĩ năng giao tiếp cần thiết của tiếp viên hàng không / Tăng Thị Hoài Phương // .- 2018 .- Số 1 .- Tr. 188-192 .- 658
Vì tính chất đặc thù của công việc, một tiếp viên hàng không cần đáp ứng đủ những tiêu chuẩn cần thiết, gồm có: ngoại hình ưa nhìn, đủ tiêu chuẩn về ngoại hình và sức khỏe, kĩ năng giao tiếp, ngoại ngữ, kĩ năng phản xạ, xử lý tình huống... Trong đó, kĩ năng giao tiếp của tiếp viên hàng không luôn có vị trí quan trọng và được coi như tiêu chuẩn cần phải đạt được. Sự giao tiếp của tiếp viên hàng không có một vai trò rất quan trọng trong nghề nghiệp của họ. Vì vậy, mỗi người tiếp viên hàng không đòi hỏi phải đáp ứng những kĩ năng giao tiếp cần thiết nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng và mang lại hiệu quả cao trong công việc.
7739 Phân tích một số kết quả quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài tại tỉnh Bình Dương / Vũ Thị Kim Vân // .- 2018 .- Số 1 .- Tr. 162-167 .- 658
Bình Dương là một trong những tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. So với các địa phương thuộc vùng thời kỳ ban đầu, Bình Dương không có nhiều thuận lợi về thu hút các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, bởi Bình Dương xuất phát điểm là một tỉnh nông nghiệp, kết cấu hạ tầng yếu kém. Tuy nhiên, đến nay, Bình Dương đã trở thành một đối thủ cạnh tranh “ nặng ký ” trong lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài so với các tỉnh, thành phố trong khu vực và cả nước. Việc khai thác lợi thế và kết quả bước đầu quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài ở Bình Dương là kinh nghiệm gợi ý cho các tỉnh, thành phố khác trong khu vực và cả nước.
7740 Thu hút FDI của các nước trên thế giới: Bài học Cho Việt Nam / Tô Thế Nguyên, Trần Đình Thao // .- 2018 .- Số 1 .- Tr. 156-161 .- 332.63
Khi Việt Nam tiếp tục coi FDI là quan trọng đối với nền kinh tế trong giai đoạn hiện nay và để thu hút FDI thì (i) nên hoàn thiện Luật Đầu tư để cho phép tiếp nhận vốn đầu tư nước ngoài qua hoạt động sáp nhập và mua lại; (ii) cần đơn giản hóa hoặc gỡ bỏ các rào cản cho dòng vốn FDI, đặc biệt là FDI trong các lĩnh vực như: kinh doanh, tài chính, xây dựng, kỹ thuật, viễn thông, phân phối và giao thông vận tải trong một khung thời gian xác định trước; (iii) cần chú ý đến hệ thống đào tạo, nâng cao trình độ, kỹ năng cho người lao động; (iv) hoàn thiện Điều 25 của Luật Đầu tư để giúp các doanh nghiệp FDI yên tâm khi sẽ không bị quốc hữu hóa trong mọi trường hợp. Ngoài ra, để thu hút nguồn vốn FDI thì ngoài các chính sách chung mà Việt Nam đã quy định, các địa phương cần dựa trên những lợi thế riêng có của mình như: điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, môi trường chính sách, và khả năng quản lý của chính quyền địa phương... để đưa ra những chính sách phù hợp thu hút FDI.