CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
7281 Điều chỉnh tăng giá điện năm 2019: đảm bảo an ninh trong cung cấp và hướng tới sử dụng hiệu quả, tiết kiệm năng lượng / Bùi Xuân Hồi // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 3 .- Tr. 50-55 .- 658
Bài viết đưa ra những phân tích các vấn đề xung quanh quyết định tăng giá của Chính phủ thêm 8,36% trên cơ sở đánh giá những hiện trạng về cung cầu trong ngành điện, các đặc trưng kinh tế kỹ thuật, sự khác biệt trong sản xuất kinh doanh điện năng để từ đó có những khuyến nghị hợp lý cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam và người tiêu dùng trong mục tiêu đảm bảo an ninh trong cung cấp điện năng và sử dụng hiệu quả tiết kiệm năng lượng.
7282 Sốc sức khỏe, nguồn cung lao động và thu nhập: trường hợp Việt Nam / Hạ Thị Thiều Dao, Nguyễn Thị Mai // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 4 .- Tr. 10-16 .- 330
Xem xét tác động của sốc sức khỏe đến hộ nông dân Việt Nam được rút trích từ bộ dữ liệu điều tra tiếp cận nguồn lực của hộ gia đình. Kết quả hồi quy cho thấy, sốc sức khỏe làm giảm cung lao động nhưng lại tăng thu nhập (ngắn hạn) đối với những chủ hộ có trình độ giáo dục cao, nhiều tiết kiệm, tài sản giá trị cao..., ngược lại, đối với chủ hộ nghèo, trình độ giáo dục thấp, làm nghề nông, dù được bảo hiểm y tế miễn phí, tiếp cận nguồn vốn lãi suất thấp, thậm chí được bồi thường từ bảo hiểm... vẫn bị ảnh hưởng tiêu cực do sốc sức khỏe gây ra. Từ đó, nghiên cứu đưa ra khuyến nghị các chính sách cần tập trung đánh giá lại vai trò của bảo hiểm miễn phí đối với các hộ nghèo, các khoản bồi thường từ bảo hiểm y tế nhằm khắc phục hạn chế từ sốc sức khỏe của hộ.
7283 Kiều hối và hàm ý chính sách: Nhìn từ góc độ cung – cầu / Trần Huy Tùng // Khoa học Công nghệ Việt Nam - B .- 2020 .- Số 4(Tập 62) .- Tr.6-10 .- 658
Cho thấy thành viên hội đồng quản trị (HĐQT) là người nước ngoài có tác động ngược chiều đến tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA); độ tuổi của thành viên ban lãnh đạo có tác động cùng chiều với tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) của doanh nghiệp. Nghiên cứu cũng cho thấy, cổ tức chi trả của doanh nghiệp có tác động tích cực với cả ROA và ROE, trong khi đòn bẩy tài chính có tác động cùng chiều với ROE. Ngoài ra, nghiên cứu này không tìm thấy mối liên hệ giữa tổng số thành viên HĐQT, trình độ học vấn của thành phần ban lãnh đạo và quy mô công ty đối với hiệu quả tài chính của doanh doanh nghiệp.
7284 Hiệp định thương mại tự do: Các cam kết liên quan đến lĩnh vực KH&CN ngành Công Thương / Vũ Thị Hồng Hạnh // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2020 .- Số 6(735) .- Tr.7-9 .- 658
Trình bày việc tự do hóa thương mại đã và đang là xu thế của kinh tế thế giới, nổi bật là việc hình thành các hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa các quốc gia và khu vực. Việt Nam đã tham gia tích cực, chủ động và đã ký kết nhiều FTA song phương, đa phương và các đối tác thương mại. Trong các hiệp định này, lĩnh vực khoa học và công nghệ (KH&CN), cụ thể liên quan đến tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, sở hữu trí tuệ luôn là một trong những nội dung đàm phán, ký kết quan trọng.
7285 Đóng góp của các nhân tố vào tăng trưởng đầu ra và phân rã đóng góp của TFP ngành sản xuất chế biến thực phẩm và ngành sản xuất đồ uống Việt Nam / Cao Hoàng Long, Hoàng Yến // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 141 .- Tr. 2-10 .- 641.502 8
Bài viết này áp dụng mô hình sản xuất biên ngẫu nhiên để ước lượng năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và ước lượng đóng góp của các nhân tố sản xuất vào tăng trưởng đầu ra của ngành sản xuất chế biến thực phẩm và ngành sản xuất đồ uống Việt Nam giai đoạn 2011-2017, sau đó phân rã đóng góp của TFP vào tăng trưởng đầu ra thành tiến bộ kỹ thuật, thay đổi hiệu quả kỹ thuật, thay đổi hiệu quả do quy mô và thay đổi hiệu quả do phân bổ. Kết quả ước lượng dựa trên dữ liệu cấp doanh nghiệp từ 2011-2017 cho thấy đóng góp của TFP và Vốn đến tăng trưởng đầu ra là tích cực (1,74% và 12,54%). Chúng tôi nhận thấy rằng đóng góp của TFP đến tăng trưởng đầu ra chủ yếu do tiến bộ kỹ thuật, đóng góp của thay đổi hiệu quả kỹ thuật âm và thay đổi hiệu quả do quy mô và do phân bổ có tác động không đáng kể. Bài viết cũng cho thấy đóng góp của thay đổi hiệu quả do phân bổ lao động là tiêu cực đối với cả hai ngành nghiên cứu và đóng góp của thay đổi hiệu quả do phân bổ vốn là dương đối với ngành sản xuất chế biến thực phẩm và âm đối với ngành sản xuất đồ uống.
7286 Các nhân tố tác động tới ý định đầu tư chứng khoán phái sinh của nhà đầu tư cá nhân: trường hợp nghiên cứu tại Việt Nam / Phan Trần Trung Dũng // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 141 .- Tr. 11-19 .- 658
Trong nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu PLS-SEM được sử dụng để đánh giá mối quan hệ giữa các biến ban đầu của Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) là Thái độ, Chuẩn xã hội, Nhận thức kiểm soát hành vi, cùng với các biến được mở rộng là Kinh nghiệm quá khứ, Nhận thức rủi ro và Thông hiểu tài chính để giải thích ý định hành vi đầu tư chứng khoán phái sinh tại Việt Nam. Bài viết cũng sử dụng phương pháp PLS-MGA để đánh giá tác động của yếu tố nhân khẩu học Thu nhập tới sự khác biệt trong mối quan hệ giữa các biến tiềm ẩn. Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các biến trừ Chuẩn xã hội đều có tác động có ý nghĩa thống kê tới ý định hành vi và phân tích MGA cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong tác động của thông hiểu tài chính giữa nhóm thu nhập cao và thu nhập thấp.
7287 Tác động của truyền miệng điện tử đến ý định mua hàng của người tiêu dùng trên nền tảng thương mại trực tuyến tại thị trường Việt Nam / Phạm Văn Tuấn // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 141 .- Tr. 30-38 .- 658
Bài viết nghiên cứu những tác động của truyền miệng điện tử đến ý định mua hàng của người tiêu dùng trên nền tảng thương mại trực tuyến. Trong đó, nghiên cứu kiểm định tác động trực tiếp từ sự chấp nhận eWOM, thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi đến ý định mua. Ngoài ra, ý định mua còn chịu tác động gián tiếp của sự chấp nhận eWOM thông qua thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi; ảnh hưởng của sự tin cậy eWOM, chất lượng eWOM thông qua sự chấp nhận eWOM. Bài báo sẽ trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm định lượng từ 09/01/2020 đến 01/03/2020 nhằm kiểm định mô hình lý thuyết cũng như các giả thuyết nghiên cứu mà nhóm đề xuất. Kết quả cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng sự tin cậy eWOM có ảnh hưởng gián tiếp tới ý định mua hàng thông qua yếu tố sự chấp nhận eWOM, ý định mua chịu sự tác động tích cực trực tiếp từ sự chấp nhận eWOM, chuẩn chủ quan cùng với nhận thức kiểm soát hành vi và sự chấp nhận eWOM có ảnh hưởng tích cực một cách gián tiếp tới ý định mua thông qua các yếu tố thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, chất lượng eWOM không gây ra tác động gián tiếp và thái độ không gây ra tác động trực tiếp tới ý định mua hàng của người tiêu dùng trên nền tảng thương mại mua sắm trực tuyến.
7288 Một số giải pháp nâng cao sự thỏa mãn công việc của nhân viên y tế: tại bệnh viện đa khoa Đồng Nai / Trần Mai Đông, Trần Huỳnh Ngân // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 141 .- Tr. 49-54 .- 658
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm đóng góp một số giải pháp nâng cao sự thỏa mãn trong công việc của cán bộ y tế, góp phần giữ chân nhân viên có chuyên môn và làm tăng sự gắn kết của họ. Qua việc biện dẫn các lý thuyết có liên quan, nghiên cứu đề xuất mô hình lý thuyết gồm 6 yếu tố ảnh hưởng đến sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên: (1) Lương và phúc lợi, (2) Đào tạo - thăng tiến, (3) Cấp trên, (4) Đồng nghiệp, (5) Điều kiện làm việc và (6) An toàn công việc. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn tay đôi với 5 nhân viên y tế (là bác sỹ, dược sỹ và điều dưỡng có kinh nghiệm làm việc trên 4 năm) nhằm tìm hiểu sâu những nguyên nhân dẫn đến sự chưa thoả mãn trong công việc của nhân viên; đồng thời, hiệu chỉnh, bổ sung và hoàn thiện thang đo cho bảng khảo sát chính thức. Kết quả khảo sát 223 nhân viên y tế đang làm việc tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Nai cho thấy, đồng nghiệp và điều kiện làm việc là hai yếu tố mà nhân viên cảm thấy hài lòng hơn những yếu tố còn lại. Trong khi đó, an toàn công việc là yếu tố nhận được sự hài lòng ít nhất từ người lao động.
7289 Công viên khoa học như là trung tâm của hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo: góc nhìn hệ thống và những hàm ý cho thành phố Hồ Chí Minh / Trần Thị Hồng Liên // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 141 .- Tr. 55-62 .- 658
Một công viên khoa học, nơi diễn ra sự tương tác mạnh mẽ giữa các trường đại học, cơ quan nghiên cứu, các doanh nghiệp và các tổ chức hỗ trợ khác dưới sự bảo trợ của chính quyền trung ương và địa phương, hoàn toàn phù hợp với bản chất của một hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh nền kinh tế khởi nghiệp đang bùng nổ và trở thành mong ước của tất cả các quốc gia, việc thúc đẩy phát triển công viên khoa học là một hướng đi đúng đắn. Con đường phát triển công viên khoa học rất đa dạng và khác biệt giữa các quốc gia, những kinh nghiệm từ Amsterdam (Hà Lan) và Suzhou (tức Tô Châu, Trung Quốc) đem đến cho Thành phố Hồ Chí Minh nhiều gợi ý hành động, trong đó đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các doanh nghiệp spin-off.
7290 Ảnh hưởng của các yếu tố hỗ trợ và trở ngại cá nhân tới ý định hành vi khởi sự kinh doanh: nhận thức của nữ sinh viên một số trường đại học tại Hà Nội / Trần Văn Trang // .- 2020 .- Số 141 .- Tr. 63-72 .- 658
Nghiên cứu này đề cập tới ảnh hưởng của các hỗ trợ từ bên ngoài, các trở ngại bản thân tới ý định hành vi khởi sự kinh doanh của nữ sinh viên. Nghiên cứu thực hiện khảo sát đối với 826 nữ sinh viên tại 4 trường đại học ở Hà Nội và sử dụng phân tích cấu trúc tuyến tính để kiểm định các giả thuyết. Kết quả chỉ ra là sự hỗ trợ từ gia đình và người thân là yếu tố quan trọng nhất định hình ý định hành vi khởi sự kinh doanh của nữ sinh viên. Nhận thức về sự hỗ trợ từ chính phủ (thể chế) có tác động tích cực, trong khi các trở ngại cá nhân có ảnh hưởng tiêu cực tới ý định hành vi khởi sự kinh doanh của nữ sinh viên. Đối với các hoạt động hỗ trợ khởi nghiệp của trường đại học, ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê tới ý định hành vi tới từ các khóa đào tạo trực tiếp về khởi nghiệp. Từ các kết quả này, các thảo luận và khuyến nghị chính sách đã được trình bày trong bài báo nhằm thúc đẩy lựa chọn hành vi khởi sự kinh doanh của nữ sinh viên.





