CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
7272 Ứng dụng video banking trong hoạt động ngân hàng / Lê Thị Anh Quyên // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2020 .- Số 12(549) .- Tr. 18-21 .- 332.12

Trình bày khái niệm Video banking là gì, các giao dịch có thể được xử lý qua Video banking, quy trình giao dịch của Video banking, kinh nghiệm áp dụng tại các nước trên thế giới.

7274 Tác động của tự do thương mại đến các biến số kinh tế vĩ mô của Việt Nam: tiếp cận từ mô hình kinh tế lượng vĩ mô / Nguyễn Việt Hùng, Lê Thị Kim Chung // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 6 .- Tr. 3-17 .- 330

Bài viết sử dụng mô hình kinh tế lượng vĩ mô để đánh giá tác động của việc cắt giảm thuế quan khi tự do hóa thương mại đến các biến số kinh tế vĩ mô của Việt Nam. Dựa trên cơ sở số liệu vĩ mô thu thập được theo tần suất quý từ quý I năm 2000 đến quý IV năm 2016, bài viết mô phỏng được tác động của việc cắt giảm 1 điểm phần trăm thuế nhập khẩu khi tự do hóa thương mại đến các biến số kinh tế vĩ mô trong tương lai từ năm 2018 đến năm 2032; từ đó, đề xuất cdc biện pháp nhằm hạn chế tác động xấu của tự do hóa thương mại đến kinh tế Việt Nam.

7275 Nghiên cứu áp dụng APA trong chống chuyển giá của doanh nghiệp FDI Trung Quốc / Đỗ Thị Lan Anh // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 5 .- Tr. 40-45 .- 658

Việc gia tăng số lượng doanh nghiệp FDI đầu tư vào Trung Quốc đã khiến tình hình chuyển giá ở nước này trở nên rất phức tạp. Đã có rất nhiều biện pháp cứng rắn và quyết liệt nhằm chống chuyển giá của doanh nghiệp FDI đã được Trung Quốc thực hiện, trong đó việc áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế đã và đang đem đến những hiệu quả cao, đặc biệt là đối với trường hợp mà cách thức quản lý thuế truyền thống bằng thanh tra, kiểm tra khó áp dụng.

7276 Xây dựng mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường đầu tư tới quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam / Nguyễn Mạnh Cường // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 5 .- Tr. 56-65 .- 658

Bài viết nghiên cứu mô hình diễn tả ảnh hưởng của môi trường đầu tư đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Từ mô hình lý thuyết dự kiến, phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng để kiểm nghiệm và hoàn thiện các thang đo với mẫu gồm giám đốc và các chuyên gia. Bằng việc thực hiện kiểm định độ tin cậy và phân tích nhân tố khám phá trên mẫu doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, mô hình thu được có sự khác biệt đáng chú ý, đó là sự xuất hiện của nhân tố mới là "hiệu quả quản trị hành chính". Kết quả nghiên cứu cho thấy quyết định đầu tư của doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được giải thích bởi môi trường đầu tư qua các yếu tố thành phần gồm: chính trị, pháp luật; hiệu quả quản trị hành chính; cơ sở hạ tầng; chi phí; thị trường và văn hóa xã hội.

7277 Tác động của chính sách giảm nghèo đối với hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa / Hồ Văn Mừng, Phạm Hồng Mạnh // .- 2019 .- Số 5 .- Tr. 85-96 .- 330

Nghiên cứu đánh giá tác động của các chính sách giảm nghèo đang được thực hiện tại địa phương đối với các hộ gia đình đồng bào dân tộc nghèo tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa. Nghiên cứu sử dụng phương pháp kiểm định Chi - Square thông qua dữ liệu điều tra đối với các hộ đồng bào dân tộc nghèo tại khu vực miền núi tỉnh Khánh Hòa để nhận diện mức độ tác động của các chính sách từ khía cạnh đánh giá của hộ gia đình. Kết quả nghiên cứu cho thấy có cả 6 nhóm chính sách đều có mức độ tác động khác nhau đến việc giảm nghèo của hộ gia đình tại khu vực này, từ đó đề xuất các khuyến nghị để việc thực hiện và triển khai các chính sách giảm nghèo đối với các hộ đồng bào dân tộc miền núi tỉnh Khánh Hòa đạt được hiệu quả thiết thực trong thời gian tới.

7278 Tái cơ cấu đầu tư công ở Việt Nam: tiến trình và những bài học / Nguyễn Chiến Thắng, Phạm Sỹ An // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 3 .- Tr. 3-10 .- 332.1

Đánh giá tiến trình đầu tư công của Việt Nam trong giai đoạn 2005-2017, trong đó khái quát lại các chính sách thúc đẩy tái cơ cấu đầu tư công, phân tích đánh giá thực trạng tái cơ cấu đầu tư công giai đoạn vừa qua theo các lát cắt về thành phần sở hữu, lĩnh vực đầu tư, nguồn vốn cũng như hiệu quả đầu tư công (ICOR) từ nguồn số liệu về đầu tư công của Tổng cục Thống kê. Các nguyên nhân của các bất cập được phân tích, từ đó rút ra các bài học để nâng cao hiệu quả đầu tư công, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, trong giai đoạn tới.

7279 Tự chủ mới chương trình đào tạo tại các trường đại học công lập: thực trạng và giải pháp / Nguyễn Thị Hương // Nghiên cứu kinh tế .- 2020 .- Số 3 .- Tr. 20-30 .- 371.018

Bài viết bàn về vấn đề mà theo các học giả thì tự chủ trường đại học là xu thế tất yếu ngày nay và là một trong những điều kiện cần thiết để thực hiện các phương thức quản trị đại học tiên tiến nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo. Sau khi phân tích thực trạng mới mở mã ngành, chương trình đào tạo tại các cơ sở giáo dục đào tạo công lập (cơ sở pháp lý, kết quả mở mới chương trình tại các cơ sở giáo dục đào tạo đại học; thảo luận, đánh giá thành tựu, hạn chế của hoạt động mở mới mã ngành đối với các đơn vị công tự chủ) tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp cho tự chủ trường đại học ở Việt Nam.

7280 Từ quan niệm công bằng của Mác nhìn nhận bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam hiện nay / Nguyễn Thị Phương Sang // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 3 .- Tr. 31-40 .- 658

Bất bình đẳng về thu nhập quá cao giữa các nhóm hộ gia đình, giữa các vùng miền có thể gây ra những tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế, nghiêm trọng hơn có thể dẫn tới khủng hoảng và bất ổn xã hội. Chính vì vậy, tăng trưởng kinh tế và công bằng thu nhập luôn là mục tiêu hàng đầu mà các quốc gia mong muốn đạt được trong dài hạn. Trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu liên quan tới chủ đề bất bình đẳng về thu nhập cả ở khía cạnh lý thuyết và thực tế. Bài viết xuất phát từ quan niệm công bằng của Mác, trên cơ sở đó phân tích thực trạng tăng trưởng kinh tế, bất bình đẳng về thu nhập được kiểm soát khá tốt, tuy nhiên, vẫn tồn tại khoảng cách giữa các nhóm thu nhập, đặc biệt là ở những vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng này là do sự khác biệt về vị trí địa lý, về cơ hội tiếp cận các dịch vụ công và tiếp cận thị trường.