CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
61 Bảo vệ môi trường, sức khỏe và tăng trưởng kinh tế : định hướng chính sách phát triển bền vững của Việt Nam / Trương Bá Thanh và Nguyễn Thị Kim Ngọc // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 204 .- Tr. 15 - 24 .- 330
Bài báo sử dụng dữ liệu giai đoạn 2021-2023 và phương pháp 3SLS để kiểm định đồng thời ảnh hưởng của sức khỏe cộng đồng (tuổi thọ trung bình, ln LE), công nghệ số (ICT) và môi trường lên tăng trưởng GRDP bình quân đầu người (ln per GRDP) tại Việt Nam. Kết quả cho thấy ln LE có hệ số 8.04 và ICT có hệ số 0.588, đều đạt ngưỡng ý nghĩa thống kê 1% (p < 0.01), khẳng định vai trò then chốt của hai yếu tố này trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Môi trường sạch (PEPI) cũng góp phần gián tiếp vào nâng cao sức khỏe (coef. 0.008; p < 0.01), tuy tác động ngược lại từ tăng trưởng lên môi trường chưa rõ ràng. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất bốn chính sách hài hòa giữa tăng trưởng - môi trường - xã hội: (1) xây dựng và công bố định kỳ “Chỉ số Phát triển bền vững” tích hợp GRDP bình quân, chỉ số ô nhiễm và tuổi thọ; (2) ưu đãi thuế thu nhập và tín dụng xanh cho ICT, năng lượng tái tạo và quỹ đổi mới sáng tạo 500 tỷ đồng hỗ trợ Air-Tech, Water-Tech, Tele-Health; (3) mở rộng đầu tư y tế dự phòng, gắn với nền tảng e-Health tích hợp Big Data/AI để giám sát ô nhiễm và dịch tễ; (4) áp dụng phí bảo vệ môi trường, thuế tài nguyên và phát hành “Trái phiếu Xanh - Sức khỏe” nhằm huy động nguồn lực cho xử lý chất thải y tế và phát triển không gian xanh. Những giải pháp này hướng đến mục tiêu tăng trưởng “xanh” và bền vững, song hành với bảo vệ môi trường và nâng cao phúc lợi xã hội.
62 Đo lường mức độ quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Thị Thanh Hà, Nguyễn Thành Cường, Nguyễn Hữu Phú // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 204 .- Tr. 25 - 37 .- 658
Nghiên cứu này nhằm đánh giá một cách hệ thống mức độ thực hiện quản trị lợi nhuận (QTLN) tại các doanh nghiệp sản xuất (DNSX) niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN). Bằng việc vận dụng hai mô hình định lượng QTLN trên cơ sở dồn tích - được đề xuất bởi Kothari và cộng sự (2005) cùng Raman & Shahrur (2008) - nghiên cứu tiến hành phân tích trên mẫu gồm 237 DNSX niêm yết tại hai sàn giao dịch HOSE và HNX từ năm 2013 đến 2023. Kết quả phân tích dữ liệu chứng minh sự hiện diện của hành vi QTLN, với mức độ biến động đáng kể theo thời gian ở cả hai mô hình đo lường. Ngoài việc ghi nhận những điểm tương đồng quan trọng, nghiên cứu cũng phát hiện những khác biệt đáng kể về mức độ QTLN giữa hai phương pháp đo lường được áp dụng. Những phát hiện này đóng góp vào hiểu biết về hành vi QTLN tại thị trường mới nổi, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học cho việc đề xuất các hàm ý chính sách nhằm giảm thiểu hành vi QTLN, nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính và thúc đẩy sự phát triển bền vững của TTCKVN.
63 Tác động của quản trị nhân lực xanh đến kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp công nghệ và thông tin truyền thông Việt Nam : vai trò trung gian của đổi mới xanh / Nguyễn Thị Minh Nhàn, Nguyễn Thị Tú Quyên // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 204 .- .- 658
Đề xuất mô hình và đo lường mức độ tác động của QTNLX tới KQHDKD qua vai trò trung gian của Đổi mới xanh (DMX) tại các doanh nghiệp ICT Việt Nam. Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng thông qua dữ liệu khảo sát từ 265 nhà quản trị các cấp tại các doanh nghiệp ICT Việt Nam, các tác giả nhận thấy QTNLX, DMX có tác động thuận chiều đến KQHDKD và DMX có vai trò trung gian một phần trong mối quan hệ giữa QTNLX và KQHDKD của các doanh nghiệp ICT Việt Nam. Những kết quả của nhóm tác giả đã làm gia tăng thêm hiểu biết về QTNLX và ảnh hưởng của QTNLX tới DMX, KQHDKD, từ đó có biện pháp hợp lý thúc đẩy QTNLX nhằm cải thiện KQHDKD của các doanh nghiệp ICT.
64 Tác động của thái độ đối với sản phẩm xanh tới ý định trung thành xanh từ góc nhìn mô hình chất lượng - lòng trung thành / Trần Thị Hoàng Hà, Lê Anh Tuấn, Nguyễn Ngọc Thía // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 204 .- .- 658
Nghiên cứu này đề xuất một khung tích hợp thái độ đối với sản phẩm xanh vào mô hình chất lượng -lòng trung thành, trong đó thái độ đối với sản phẩm xanh được đặt ở trung tâm của mô hình đề xuất. Kết quả nghiên cứu xác thực tính phù hợp của mô hình tích hợp trong việc nghiên cứu ý định trung thành xanh, đồng thời xác nhận vai trò quan trọng của thái độ đối với sản phẩm xanh trong mô hình đề xuất và cho thấy thái độ đối với sản phẩm xanh có tác động quan trọng tới ý định trung thành xanh. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng các yếu tố khác trong mô hình lòng trung thành khách hàng có ảnh hưởng đáng kể đến thái độ đối với sản phẩm xanh và ý định trung thành xanh. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quan trọng của chất lượng cảm nhận xanh có ảnh hưởng mạnh đến thái độ đối với sản phẩm xanh và ý định trung thành xanh. Nghiên cứu cũng cho thấy tăng cường chất lượng cảm nhận xanh là cơ sở để nâng cao ý định trung thành xanh và thúc đẩy khách hàng hướng đến việc mua sản phẩm xanh.
65 Vai trò của hiểu biết tài chính trong mối quan hệ giữa thiên kiến hành vi và kết quả đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân Việt Nam / Nguyễn Thị Ngọc Loan // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 204 .- Tr. 87 - 97 .- 658
Nghiên cứu này kiểm tra tác động của thiên kiến hành vi đến kết quả đầu tư (KQĐT). Đồng thời, nghiên cứu cũng mở rộng những đóng góp bằng cách tìm hiểu vai trò của hiểu biết tài chính trong việc điều tiết quan hệ tác động giữa thiên kiến hành vi với kết quả ĐTCK. Kỹ thuật hồi quy logistic thứ bậc được sử dụng để phân tích dữ liệu thu thập từ một cuộc khảo sát trực tuyến gồm 362 nhà đầu tư (NĐT) từ 12/2023 đến 3/2024 trên TTCK Việt Nam. Kết quả cho thấy thiên kiến nhận thức muộn và quá tự tin tác động tiêu cực đến KQĐT và hiểu biết tài chính làm suy giảm đáng kể tác động tiêu cực của quá tự tin đến KQĐT trong khi không điều tiết quan hệ tác động giữa nhận thức muộn và KQĐT. NĐT cá nhân có thể tham khảo nghiên cứu này để hiểu rõ hơn về tác động bất lợi của thiên kiến nhận thức muộn và quá tự tin đến KQĐT cũng như tính hữu ích của hiểu biết tài chính trong việc giảm tác động tiêu cực của quá tự tin. Kết quả nghiên cứu này có thể làm cơ sở đề xuất các khuyến nghị cho các bên có liên quan đến thị trường chứng khoán Việt Nam.
66 Tác động hai chiều giữa bất định chính sách kinh tế và ổn định ngân hàng / Lê Huỳnh Như,Trịnh Hữu Lực // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 203 .- Tr. 3 - 12 .- 658
Nghiên cứu này xem xét mối quan hệ hai chiều giữa sự bất định về chính sách kinh tế (EPU) và ổn định của ngân hàng (NH) tại 20 quốc gia giai đoạn 2009 - 2023 bằng cách sử dụng công cụ ước tính DGMM dựa trên dữ liệu bảng điều khiển cấp NH không cân bằng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tồn tại tác động hai chiều giữa EPU và ổn định NH. Cụ thể, EPU được đo lường bởi chỉ số “Economics Policy Uncertainty - EPU” có tác động nghịch chiều đến ổn định NH và ngược lại, ổn định NH cũng có tác động nghịch chiều đến EPU. Tuy nhiên, không tìm thấy kết quả tương tự với EPU được đo lường thông qua chỉ số “World Uncertainty Index - WUI”. Nghiên cứu thực nghiệm của tác giả có ý nghĩa chính sách cụ thể đối với các NH, nhà quản lý và cơ quan chính phủ trong việc ra quyết định nhằm ổn định hệ thống NH trong bối cảnh EPU hiện nay.
67 Ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến chỉ số chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Đặng Hải Yến // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 203 .- Tr. 13 - 26 .- 332.024
Chính sách tiền tệ luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tác động đến chỉ số chứng khoán và tác động trực tiếp đến hành vi của nhà đầu tư. Vì vậy, nghiên cứu tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến chỉ số chứng khoán (VNI) Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2023, áp dụng mô hình SVAR (tự hồi quy vectơ cấu trúc) với dữ liệu từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2023. Kết quả chỉ ra rằng cung tiền M2, có phản ứng cùng chiều trong khi đó lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng có tác động ngược chiều đến chỉ số chứng khoán Việt Nam, trong đó phản ứng của chỉ số chứng khoán đối với sự thay đổi cung tiền M2 mạnh hơn đối với sự thay đổi lãi suất liên ngân hàng. Bên cạnh đó, nghiên cứu ghi nhận ảnh hưởng đáng kể từ các biến kiểm soát trong mô hình như chỉ số giá tiêu dùng, tỷ giá hối đoái và chỉ số sản xuất công nghiệp. Phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm và gợi mở các khuyến nghị chính sách đến các bên liên quan như nhà đầu tư chứng khoán, công ty chứng khoán và các nhà hoạch định chính sách nhằm phát huy hiệu quả thị trường chứng khoán Việt Nam.
68 Tác động phi tuyến của tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và phát triển tài chính đến sự bền vững môi trường ở Việt Nam / Nguyễn Huỳnh Mai Trâm, Bùi Hoàng Ngọc, Phạm Đình Long // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 203 .- Tr. 27 - 44 .- 330
Nghiên cứu này khám phá tác động phi tuyến tính của tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và phát triển tài chính đến sự bền vững môi trường ở Việt Nam trong giai đoạn 1990-2022. Bằng việc áp dụng phương pháp hồi quy phân vị dựa trên phân vị (quantile-on-quantile), kết quả cho thấy tăng trưởng kinh tế có tác động ngược chiều với sự bền vững môi trường, nhưng tác động tiêu cực này giảm dần ở các phân vị cao (0,6-0,95). Điều này ngụ ý rằng khi tăng trưởng kinh tế đạt đến một mức độ nhất định thì tốc độ suy thoái chất lượng môi trường sẽ giảm. Tương tự, tác động của chuyển đổi số đến dấu chân sinh thái là thuận chiều, yếu ở những phân vị thấp (0,01-0,4) nhưng tăng dần ở các phân vị cao. Cuối cùng, phát triển tài chính có tác động hỗ trợ cho sự bền vững môi trường, ảnh hưởng này mạnh ở những phân vị cao. Những phát hiện của nghiên cứu, cung cấp bằng chứng quan trọng cho cơ quan quản lý trong việc cân bằng giữa tăng trưởng kinh tế, chuyển đổi số và bảo vệ môi trường, đồng thời khuyến khích phát triển thị trường tài chính như một công cụ hỗ trợ sự bền vững môi trường ở Việt Nam.
69 Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm F & B có sử dụng bao bì thân thiện với môi trường / Trần Nguyễn Khánh Hải, Nguyễn Vũ Yến Nhi, Nguyễn Quỳnh Anh // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 203 .- Tr. 45 - 53 .- 658
Tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua sản phẩm (YĐMSP) F&B có sử dụng bao bì thân thiện với môi trường. Nghiên cứu này khảo sát 320 người thường xuyên sử dụng sản phẩm F&B có sử dụng bao bì thân thiện môi trường (BBTTMT) tại thành phố Hồ Chí Minh và phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 25.0. Kết quả của nghiên cứu đã cho thấy rằng, tất cả 4 yếu tố: kiến thức về môi trường, kinh nghiệm về sản phẩm xanh, chuẩn mực chủ quan, thái độ đều ảnh hưởng đến YĐMSP F&B có sử dụng bao bì thân thiện với môi trường. Kết quả đã góp phần đề xuất giải pháp giúp cho những doanh nghiệp trong ngành giảm thiểu được khối lượng rác thải ra ngoài môi trường, hướng tới sự bền vững trong phát triển kinh tế.
70 Nghiên cứu tác động của hệ giá trị lên hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh của người tiêu dùng Việt Nam / Đỗ Thị Hồng Vân // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 203 .- Tr. 72 - 85 .- 658
Tìm hiểu tác động của hệ giá trị bao gồm giá trị văn hóa và giá trị vị kỷ lên hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh của người tiêu dùng Việt Nam. Dữ liệu khảo sát được thu thập từ 297 người tiêu dùng, sau đó được xử lý trên phần mềm SPSS 25.0. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố “chủ nghĩa tập thể”, “quyền lực kiểm soát vật chất” và “thể diện” tác động có ý nghĩa thống kê lên hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh; ngược lại các yếu tố “chủ nghĩa cá nhân”, “quyền lực kiểm soát con người” không tác động lên hành vi tiêu dùng sản phẩm xanh. Kết quả nghiên cứu cũng hàm ý khuyến nghị chính sách cho các nhà tiếp thị và nhà hoạch định nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng có trách nhiệm và cải thiện cuộc sống cộng đồng.





