CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
6231 Ảnh hưởng của định hướng chiến lược kinh doanh đến liên kết chuỗi cung ứng và kết quả kinh doanh / Nguyễn Thành Hiếu, Nguyễn Ngọc Trung, Nguyễn Thị Nga // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 279 .- Tr. 20-28 .- 658

Xác định mối quan hệ giữa định hướng chiến lược kinh doanh, mức độ liên kết và kết quả kinh doanh của các tổ chức tham gia chuỗi cung ứng thủy sản (cá tra và tôm) ở tỉnh Bến Tre. 300 phiếu hỏi được gửi trực tiếp đến các nhà quản lý hoặc phụ trách logistics trong các tổ chức trên. Sau 2 tháng thu thập, 153 phiếu hợp lệ đã được đưa vào phân tích. Dữ liệu được phân tích theo qui trình chuẩn gồm các bước từ phân tích nhân tố đến kiểm định độ tin cậy và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định các giả thiết. Kết quả chỉ ra rằng định hướng chiến lược kết hợp cả chi phí thấp và định hướng khách hàng có tác động đến mức độ liên kết với nhà cung ứng, nhưng không ảnh hưởng đến mức độ liên kết với khách hàng. Ngoài ra, liên kết với khách hàng và nhà cung ứng đều có tác động đến kết quả kinh doanh của các tổ chức tham gia trong chuỗi cung ứng thủy sản ở Bến Tre.

6232 Vai trò của khu công nghiệp đối với việc tăng quy mô lao động ngành công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng : thực trạng và vấn đề / Mai Ngọc Cường, Phạm Minh Lộc // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 279 .- Tr. 29-36 .- 330

Trên cơ sở phân tích sự biến đổi quy mô lao động của các khu công nghiệp và đóng góp của nó đối với sự phát triển đội ngũ lao động ngành công nghiệp, bài viết chỉ ra hai vấn đề bất cập lớn nhất trên phương diện thu hút lao động của các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay là lực lượng lao động được thu hút vào làm việc tại khu công nghiệp còn thấp so với khả năng của khu công nghiệp và sự thiếu ổn định về việc làm của một bộ phận lao động trong khu công nghiệp. Để khắc phục tình trạng đó, bài viết khuyến nghị cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền thành phố với các doanh nghiệp khu công nghiệp trong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng lao động, quan tâm tới chính sách tiền lương, thu nhập, nhà ở và cải thiện đời sống tinh thần cho người lao động.

6233 Cải thiện môi trường kinh doanh để thúc đẩy đổi mới sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ / Vũ Hoàng Nam // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 279 .- Tr. 37-47 .- 658

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra các nhóm yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp có tác động tới các hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp. Mặc dù vậy, nghiên cứu về tác động của môi trường kinh doanh đối với hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam còn hạn chế. Nghiên cứu này cho thấy chất lượng môi trường kinh doanh có tác động tới hoạt động đổi mới sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo hướng hỗ trợ nhiều hơn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có kinh nghiệm đổi mới sản phẩm trước đây bắt kịp với các doanh nghiệp đi trước. Kết quả nghiên cứu cho thấy một số chính sách cải thiện môi trường kinh doanh cụ thể, đồng thời thúc đẩy hoạt động đổi mới sản phẩm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam.

6234 Tác động của tài nguyên dư thừa tới xuất khẩu của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam / Nguyễn Thị Kim Trúc, Nguyễn Thị Thu Vui, Nguyễn Thị Thùy Dung, Đoàn Ngọc Thắng // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 279 .- Tr. 48-57 .- 658

Bài viết nghiên cứu tác động của tài nguyên dư thừa lên xuất khẩu của doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam từ 2011-2015. Tài nguyên dư thừa bao gồm dư thừa tài chính và lao động. Kết quả ước lượng cho thấy dư thừa lao động làm tăng xác suất một doanh nghiệp tham gia xuất khẩu và cường độ xuất khẩu, trong khi dư thừa tài chính làm giảm cường độ xuất khẩu. Tác động tích cực của dư thừa lao động lên xác suất xuất khẩu mạnh hơn khi doanh nghiệp không có hối lộ, quy mô nhỏ và mức cạnh tranh cao. Dư thừa lao động tác động lên cường độ xuất khẩu mạnh hơn đối với doanh nghiệp có hợp đồng gia công, không hối lộ, và không có cạnh tranh ngành. Trong khi đó, dư thừa tài chính có tác động tiêu cực lớn hơn lên cường độ xuất khẩu đối với doanh nghiệp có hợp đồng gia công. Để tăng cường xuất khẩu, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nâng cao năng lực quản trị tài nguyên về tài chính và tăng cường thu hút lao động toàn thời gian.

6235 Thái độ đối với rủi ro và thu nhập của nông hộ Đồng bằng Sông Cửu Long / Nguyễn Tuấn Kiệt, Trịnh Công Đức, Đoàn Phương Quyên, Trương Thuỷ Tiên // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 279 .- Tr. 65-73 .- 332.1

Đo lường thái độ đối với rủi ro của nông hộ và xác định mối quan hệ giữa thái độ đối với rủi ro và thu nhập của nông hộ ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Đây là nghiên cứu tiên phong ở Việt Nam sử dụng phương pháp thí nghiệm thực địa thông qua việc cải tiến thang đo danh mục giá (Multiple price list). Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát và làm thí nghiệm với 470 nông dân. Kết quả phân tích dữ liệu cho thấy (1) nông hộ có thái độ sợ rủi ro rất cao, và (2) tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa thái độ đối với rủi ro của nông hộ và thu nhập của họ.

6236 Các nhân tố thúc đẩy và cản trở tài chính toàn diện ở Việt Nam / Ông Nguyên Chương // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 279 .- Tr. 74-83 .- 332.1

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu gộp và hồi quy tobit với bộ dữ liệu Điều tra hộ gia đình nông thôn ở Việt Nam (VARHS) 2008, 2010, 2012, 2014, 2016 để xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến tài chính toàn diện ở phạm vi hộ gia đình. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tình trạng học vấn của chủ hộ, thu nhập hộ, giá trị bằng tiền của các mảnh đất thuộc sở hữu của hộ, số lượng mảnh đất có sổ đỏ của hộ, tiếp cận dịch vụ tài chính thông qua internet là các nhân tố thúc đẩy; trong khi đó tỷ lệ phụ thuộc của hộ và hộ nghèo là các nhân tố cản trở tài chính toàn diện ở Việt Nam.

6237 Mức độ biến động tỷ giá và truyền dẫn tỷ giá hối đoái ở Việt Nam / Nguyễn Thị Ngọc Trang, Quách Doanh Nghiệp // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 279 .- Tr. 84-96 .- 332.1

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp Hồi quy chuyển tiếp trơn (Smooth transition regression model – STR model) nhằm tìm kiếm bằng chứng về mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái vào lạm phát phụ thuộc vào mức độ biến động tỷ giá ở Việt Nam. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy tồn tại sự phản ứng bất đối xứng của lạm phát trước biến động của tỷ giá. Theo đó, mức độ truyền dẫn sẽ khác biệt nhau tùy thuộc mức độ biến động trong tỷ giá ở dưới hoặc trên mức ngưỡng 0,8%/tháng. Trong dài hạn, mức độ truyền dẫn của tỷ giá vào lạm phát sẽ cao hơn khi biến động của tỷ giá vượt mức ngưỡng. Kết quả này cho thấy động cơ duy trì thị phần có thể là nguyên nhân làm thay đổi hành vi điều chỉnh giá của các doanh nghiệp tại Việt Nam trước cú sốc trong tỷ giá.

6238 Ứng dụng mô hình triển khai chức năng chất lượng tích hợp trong lựa chọn nhà cung cấp xanh / Đỗ Anh Đức // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 279 .- Tr. 97-104 .- 658

Lựa chọn chọn và phân nhóm nhà cung cấp xanh là một nhiệm vụ quan trọng của các doanh nghiệp để giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hóa. Để xử lý sự không chắc chắn và động của vấn đề phân khúc nhà cung cấp, nghiên cứu này đề xuất mô hình triển khai chức năng chất lượng (QFD) tích hợp phương pháp điểm lý tưởng (TOPSIS) để ứng dụng trong lựa chọn nhà cung cấp xanh từ các khía cạnh của năng lực và sự sẵn sàng, liên quan đến các vấn đề môi trường. Mô hình được đề xuất đã được sử dụng để để đánh giá và lựa chọn nhà cung cấp xanh cho một doanh nghiệp sản xuất. Kết quả ứng dụng mô hình đã phản ảnh được những lợi thế và khả năng áp dụng của phương pháp đề xuất.

6239 Chất lượng thể chế quản trị địa phương và tăng trưởng kinh tế cấp tỉnh của Việt Nam / Đỗ Tuyết Nhung, Lê Quang Cảnh // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 280 .- Tr. 2-12 .- 658

Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cho thấy chiều hướng tác động khác nhau giữa thể chế quản trị và tăng trưởng kinh tế địa phương, điều này có thể xuất phát từ thước đo chất lượng thể chế quản trị hoặc phương pháp kiểm định. Nghiên cứu này sử dụng các chỉ số thể chế quản trị cấp tỉnh được xây dựng từ hai bộ dữ liệu PAPI và PCI trong nghiên cứu của Đỗ Tuyết Nhung & Lê Quang Cảnh (2020) để tìm hiểu mối quan hệ nhân quả giữa thể chế quản trị và tăng trưởng kinh tế, trên cơ sở đó ước lượng tác động của thể chế quản trị tới tăng trưởng kinh tế địa phương cấp tỉnh tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy giữa hai biến số tồn tại mối quan hệ nhân quả, và khi được kiểm soát tính nội sinh thì thể chế quản trị có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Kết quả này ủng hộ các gợi ý chính sách cải thiện chất lượng thể chế nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương cấp tỉnh Việt Nam.

6240 Vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng thu nhập hộ gia đình khu vực nông thôn Việt Nam / Vũ Văn Hùng // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 280 .- Tr. 13-22 .- 658

Bài viết nhằm nghiên cứu tác động của giáo dục đối với thu nhập hộ gia đình khu vực nông thôn Việt Nam bằng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) và hồi quy phân vị trên mẫu nghiên cứu gồm 15.110 hộ được lấy từ khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam 2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy giáo dục đóng vai trò quan trọng, góp phần cải thiện thu nhập hộ gia đình nông thôn cùng với các yếu tố khác như tình trạng hôn nhân, tuổi, giới tính, diện tích đất, quy mô hộ gia đình, dân tộc, có tham gia chăn nuôi. Trong đó, giáo dục đại học đóng vai trò rất lớn trong gia tăng trình độ nhận thức, trình độ chuyên môn, khả năng ứng dụng các kỹ năng vào thực tiễn, khả năng lãnh đạo và kiểm soát rủi ro cho các chủ hộ gia đình nông thôn, từ đó góp phần cải thiện thu nhập cho hộ gia đình. Ngoài ra, kết quả hồi quy phân vị ở các mức 0,1 – 0,25 – 0,5 – 0,75 – 0,9 cho thấy, giáo dục nghề nghiệp (cao đẳng, đại học) đem lại hiệu quả lớn hơn, quan trọng hơn trong cải thiện thu nhập cho những hộ gia đình nông thôn có thu nhập bình quân thấp so với những hộ có thu nhập bình quân cao.