CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
6211 So sánh mô hình ARIMA và VECM trong dự báo cầu lao động ở các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến Tỉnh Bình Dương / Phạm Ngọc Thành, Đỗ Thị Hoa Liên, Hoàng Võ Hằng Phương // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 41-53 .- 658

Bài viết ứng dụng các mô hình trong phương pháp chuỗi thời gian vào dự báo cầu lao động của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến ở Bình Dương. Trong đó, hai mô hình phổ biến được sử dụng nhiều trong dự báo cầu lao động trong ngắn hạn là ARIMA và VECM được phân tích và so sánh. Mô hình được xây dựng trên dữ liệu từ năm 1996 đến 2014, sau đó dự báo được thực hiện cho các năm 2015 đến 2017 để kiểm tra mức độ chính xác của các mô hình. Kết quả cho thấy cả hai mô hình đều có năng lực dự báo tốt, tuy nhiên, mô hình ARIMA trong trường hợp này có khả năng dự báo chính xác hơn so với mô hình VECM. Bên cạnh đó, nhóm tác giả tìm thấy vai trò quan trọng của vốn sản xuất đối với sự thay đổi cầu lao động ngành công nghiệp chế biến Bình Dương cả trong ngắn hạn và dài hạn.

6212 Tốc độ điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt nắm giữ tối ưu của các công ty niêm yết Việt Nam / Nguyễn Thị Uyên Uyên, Phạm Hoàng Anh // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 54-64 .- 332.1

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định tốc độ điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt tối ưu của các công ty niêm yết Việt Nam. Với dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017, tạo thành mẫu 5.499 công ty – năm quan sát, thông qua phương pháp hồi quy GMM hệ thống hai bước với kỹ thuật “robust” và “small”, nhóm tác giả đã cho thấy các công ty niêm yết Việt Nam luôn có xu hướng điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt tối ưu với tốc độ là 38,95%. Thêm vào đó, giữa các nhóm công ty khác nhau1 thì tốc độ điều chỉnh cũng khác nhau, với các công ty tạo ra dòng tiền tự do càng nhiều thì tốc độ điều chỉnh càng nhanh.

6213 Vai trò trung gian của việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng và ảnh hưởng điều tiết của sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ / Nguyễn Thị Thu, Lê Mộng Huyền // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 65-75 .- 657

Nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm định vai trò trung gian của việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng trong mối quan hệ giữa chiến lược tập trung vào khách hàng và kết quả hoạt động kinh doanh phương diện khách hàng. Đồng thời, nghiên cứu cũng kiểm định vai trò điều tiết của sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ cho hai mối quan hệ: (1) giữa chiến lược tập trung vào khách hàng và việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng và (2) giữa việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng và kết quả hoạt động kinh doanh phương diện khách hàng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua một bảng khảo sát tự đánh giá được gửi đến các nhà quản trị cấp cao và cấp trung đang làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Kết quả phân tích dữ liệu thu được từ 187 phản hồi cho thấy hầu hết các giả thuyết được ủng hộ, ngoại trừ sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ không đóng vai trò điều tiết cho mối quan hệ giữa chiến lược tập trung vào khách hàng và việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng.

6214 Chất lượng dịch vụ cảng biển: Trường hợp cảng quốc tế Tân Cảng - Cái Mép / Nguyễn Quang Vinh, Phan Mạnh Trà // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 76-83 .- 658

Phát triển cảng biển nói chung và nâng cao chất lượng dịch vụ cảng biển nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược biển của Việt Nam. Cụm cảng Cái Mép - Thị Vải có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nghiên cứu đánh giá chất lượng dịch vụ Cảng Quốc tế Tân Cảng – Cái Mép và đề xuất hàm ý quản trị tương ứng. Khảo sát 290 khách hàng doanh nghiệp cho thấy 5 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Cảng gồm Nguồn lực, Quá trình phục vụ, Năng lực quản lý, Hình ảnh và trách nhiệm xã hội, và Kết quả thực hiện. Nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác nhau trong đánh giá chất lượng dịch vụ cảng biển giữa các khách hàng thuộc lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo đối với nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ tại các cảng biển khác ở Việt Nam.

6215 Tác động của chất lượng dịch vụ khuyến nông tới sự hài lòng của nông dân : nghiên cứu ở vùng đồng bằng Sông Hồng / Nguyễn Thị Thanh // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 84-93 .- 658

Bài báo nghiên cứu tác động của các yếu tố chất lượng dịch vụ khuyến nông tới sự hài lòng của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng. Để thực hiện điều này, nghiên cứu sử dụng mô hình chất lượng dịch vụ Servqual và mở rộng một số tiêu chí phù hợp với lĩnh vực dịch vụ công trong nông nghiệp. Kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và hồi quy đa biến được áp dụng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát tại 3 tỉnh đại diện của vùng là Hà Nội, Hà Nam và Thái Bình, đạt 283 phiếu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 yếu tố (1) năng lực và thái độ phục vụ của cán bộ, (2) tính trách nhiệm của đơn vị triển khai và (3) tính minh bạch và giải trình của hoạt động cung ứng, có ảnh hưởng tích cực lên sự hài lòng của nông dân về dịch vụ khuyến nông trên địa bàn nguyên cứu.

6216 Xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững thông qua đổi mới sáng tạo : kinh nghiệm của hãng Hàng không Singapore và bài học cho Việt Nam / Đỗ Hoàng Phương // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 572 .- Tr. 4-6 .- 658

Bài viết phần tích các chính sách đổi mới sáng tạo tại hãng Hàng không Singapore (SIA), một trường hợp điển hình trong việc tạo lập lợi thế cạnh hanh bền vững để dẫn đầu thị trường toàn cầu. Thông qua nghiên cứu trường hợp của SIA, có thể nhận ra rằng lợi thế cạnh tranh bền vững tới từ việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ khác biệt, sáng tạo đồng thời duy trì hiệu quả trong kinh doanh. Nghiên cứu thông qua đó đưa ra một số gợi ý chính sách cho ngành hàng không của Việt Nam, đồng thời nêu ra một số gợi ý cho các nhà làm chính sách nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của đất nước.

6217 Thực trạng và nguồn tài trợ đối với dự án năng lượng tái tạo ở Việt Nam / Trần Thế Nữ, Đặng Hương Giang // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 572 .- Tr. 7-9 .- 658

Năng lượng tái tạo (NLTT) đang nổi lên như một trong những lĩnh vực được ưu tiên nhất cho đầu tư ở Việt Nam. Mặc dù nhìn nhận có tiềm năng lớn, nhưng việc phát triển các nguồn NLTT trong thời gian qua đối mặt với nhiều bất cập và thách thức, như chi phí đầu tư còn cao, số giờ vận hành nguồn điện thấp, cơ sở hạ tầng lưới điện một số khu vực nhiều tiềm năng về NLTT chưa sẵn sàng để giải phóng công suất... Ngoài ra, còn một bất cập lớn có ý nghĩa quyết định đến các dự án NLTT — nguồn vốn tài trợ cho dự án, bài viết này thông qua tìm hiếu thực trạng nguồn tài trợ, đánh giá các vướng mắc từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nguồn tài trợ dành cho các dự án NLTT.

6218 Phát triển công nghiệp hỗ trợ của Vỉệt Nam để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài sau đại dịch Covid-19 / Đào Thị Thu Hiền // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 572 .- Tr. 10-12 .- 332.63

Bài bài nghiên cứu này nhằm cung cấp một bức tranh tổng thể cho lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ (CNHT) của Việt Nam hiện nay trong bối cảnh trước và sau khi đại dịch Covid-19 xuất hiện dẫn đến nhiều biến động cho nền kinh tế Việt Nam cũng như việc đón nhận dòng đầu tư FDI hiện nay. Một số khó khăn và giải pháp đã được thảo luận không những đem lại sự phát triển bền vững cho lĩnh vực CNHT như một lợi thế cạnh tranh mà còn xây dựng lĩnh vực này là một trong những yếu tố quan trọng khi quyết định đầu tư FDI tại Việt Nam.

6219 Việt Nam tham gia hiện thực hóa Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) từ năm 2016 đến nay : kết quả, hạn chế và một số khuyến nghị / Trần Thị Thanh Tâm, Đinh Ngọc Ruẫn // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 572 .- Tr. 19-21 .- 330

Cộng đồng ASEAN (AC) chính thức tuyên bố thành (31/12/2015), trong đó có Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Tham gia hiện thực hóa những mục tiêu trong kế hoạch tổng thể AEC 2025, đến nay, sau gần nửa chặng đường, Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ, nhưng cũng nảy sinh những hạn chế nhất định. Với mong muốn thúc đẩy hơn nữa sự tham gia của Việt Nam vào AEC thời gian tới, chúng tôi mạnh dạn nêu ra một số khuyến nghị trong bài viết này.

6220 Chính sách tín dụng đối với thị trường bất động sản : thực tiễn và kiến nghị giải pháp / Nguyễn Mai Linh // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 572 .- Tr. 28-30 .- 332.1

Thắt chặt tín dụng là một trong nhứng mục tiêu mà chính sách tín dụng đối với thị trường bất động sản (TTBĐS) đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Động thái của Ngân hàng Nhà nước nhằm mục tiêu kiểm soát nguồn vốn vào TTBĐS , thúc đẩy lĩnh vực có giá trị vốn hóa này phát triển theo quỹ đạo lành mạnh, ổn định và minh bạch. Tuy nhiên, chính sách tín dụng khi trở thành thực thể đi vào thực tiễn đã làm nảy sinh nhiều bất cập.