CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
6211 Tác động của việc cắt giảm thuế quan theo cam kết trong CPTPP đến một số ngành sản phẩm : tiếp cận mô hình cân bằng riêng / Nguyễn Việt Hùng, Lê Thị Kim Chung // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 281 .- Tr. 13-23 .- 658
Bài viết sử dụng mô hình cân bằng riêng để đánh giá tác động của việc cắt giảm thuế quan theo cam kết trong Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đến các chỉ tiêu phúc lợi của một số ngành sản phẩm của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc cắt giảm thuế quan theo cam kết trong CPTPP đã ảnh hưởng đến: nguồn thu ngân sách của chính phủ từ thuế bị mất đi 591,5 triệu đô la Mỹ (USD) và phần thiệt hại của doanh nghiệp là 233 triệu USD, đồng thời làm mất đi 15.619 việc làm của các ngành nghiên cứu. Ngược lại, người tiêu dùng được lợi nhất, với tổng thặng dư của người tiêu dùng thu được khoảng 830 triệu USD và cuối cùng lợi ích ròng cho xã hội vẫn dương và bù đắp cho xã hội được gần 6 triệu USD.
6212 Phân tích các nhân tố tác động tới cầu dịch vụ y tế ở Việt Nam / Nguyễn Thị Tuyết // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 281 .- Tr. 24-34 .- 658
Cầu dịch vụ y tế được xem xét là một quá trình kể từ khi ra quyết định sử dụng dịch vụ y tế, tức lựa chọn khám chữa bệnh cho đến quyết định chi tiêu bao nhiêu cho các dịch vụ y tế. Nghiên cứu ứng dụng mô hình lựa chọn Heckman hai bước để ước lượng các nhân tố tác động tới cầu y tế nội trú và ngoại trú. Kết quả ước lượng chỉ ra rằng việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế làm giảm chi tiêu y tế nội trú nhưng lại làm tăng chi tiêu y tế ngoại trú. Chất lượng cơ sở y tế tăng góp phần giảm chi tiêu y tế ngoại trú. Khoảng cách tới cơ sở y tế xa hơn làm giảm khả năng đi khám chữa bệnh của cá nhân và làm tăng các chi phí y tế nội trú. Từ đó nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị nhằm làm tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế và giảm gánh nặng chi tiêu y tế cho người dân.
6213 Ảnh hưởng của phương thức gia nhập thị trường đến việc thâm nhập tài sản địa phương của công ty đa quốc gia tại Việt Nam / Võ Văn Dứt // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 281 .- Tr. 35-43 .- 658
Nghiên cứu này vận dụng “Lý thuyết hợp nhất tài sản” để đo lường ảnh hưởng của phương thức gia nhập thị trường đến việc thâm nhập tài sản địa phương của công ty đa quốc gia tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu được trích từ Bộ dữ liệu điều tra của Tổng cục Thống kê tại 82 công ty con thuộc công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam và hồi quy tuyến tính (OLS) để kiểm định mối quan hệ này. Kết quả cho thấy rằng các công ty con thuộc công ty đa quốc gia được thành lập dưới phương thức sáp nhập hoặc mua lại (M&A) thì việc thâm nhập tài sản địa phương ít bị cản trở hơn so với các công ty con được thành lập dưới phương thức đầu tư mới (Greenfield). Các hàm ý quản trị được thảo luận trong bài viết.
6214 Hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất rau an toàn tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế / Nguyễn Quang Phục // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 281 .- Tr. 64-72 .- 330
Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất rau an toàn tại huyện miền núi A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) đã được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện A Lưới đem lại hiệu quả cao về kinh tế, tạo việc làm ổn định và khai thác được lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng như kinh nghiệm trồng rau của chủ hộ. Đó là tín hiệu rất tích cực trong chuyển đổi mô hình sản xuất của người dân địa phương. Để nâng cao hiệu quả của mô hình cũng như nhân rộng mô hình sản xuất rau an toàn trong thời gian tới, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong giám sát kỷ thuật, đánh giá, tư vấn kịp thời cho các hộ đóng một vai trò quan trọng.
6215 Vai trò trung gian của sự cam kết trong mối quan hệ giữa sự công bằng trong tổ chức và kết quả làm việc của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Minh Hải // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 281 .- Tr. 83-91 .- 658
Hiệu quả làm việc của nhân viên là một trong những vấn đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học và các nhà quản trị từ trước đến nay. Những yếu tố quyết định kết quả làm việc của nhân viên có thể phân thành nhiều nhóm bao gồm yếu tố thuộc về tổ chức, yếu tố thuộc về nhân viên, yếu tố thuộc về đặc điểm công việc... Trên cơ sở lý thuyết về sự công bằng và sự cam kết của nhân viên, nghiên cứu được thực hiện với mục đích kiểm định sự tác động trực tiếp và gián tiếp của sự công bằng đối với kết quả làm việc của nhân viên thông qua biến sự cam kết với tổ chức. Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh với kích cỡ mẫu là 327 nhân viên làm việc trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự công bằng trong tổ chức có sự tác động trực tiếp đến kết quả làm việc của nhân viên. Tuy nhiên, sự cam kết không đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa sự công bằng và kết quả làm việc của nhân viên.
6216 Các yếu tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp : trường hợp ngành chế biến chế tạo vùng Tây Nam Bộ / Trần Khánh Hưng, Vũ Hùng Cường // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 12-21 .- 658
Bài viết phân tích vấn đề phát triển của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo vùng Tây Nam Bộ. Sử dụng mô hình MIXED Effect, nghiên cứu phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp. Kết quả mô hình cho thấy, theo tiêu chí phát triển về lượng, yếu tố vốn vẫn là yếu tố quyết định và yếu tố lao động ít ảnh hưởng đến sự phát triển về số lượng doanh nghiệp. Theo tiêu chí phát triển về chất, các doanh nghiệp quy mô lớn hơn hoạt động tốt hơn. Đồng thời, các doanh nghiệp quy mô lớn hơn sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả hơn. Ngoài ra, một số đặc trưng của doanh nghiệp như địa điểm đặt nhà xưởng hay tình trạng tham gia xuất khẩu cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp về mặt chất, nhưng mức độ ảnh hưởng này khác nhau giữa các ngành. Với đa số các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, kết quả gợi ý ưu tiên chính sách giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất như chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn. Bên cạnh đó, cần có chính sách phát triển các khu công nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, và tham gia xuất khẩu.
6217 Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng thủy sản / Nguyễn Thành Hiếu, Nguyễn Ngọc Trung, Nguyễn Hữu Sáng // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 22-30 .- 658
Xác định mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, rủi ro và mức độ liên kết giữa các tổ chức tham gia chuỗi cung ứng thủy sản ở tỉnh Bến Tre. 300 phiếu hỏi được gửi trực tiếp đến đối tượng điều tra và thu thập trong 2 tháng. 153 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích. Dữ liệu được phân tích theo qui trình chuẩn gồm các bước từ phân tích nhân tố đến kiểm định độ tin cậy và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định các giả thiết. Kết quả chỉ ra rằng rủi ro từ nguồn cung và thị trường ảnh hưởng đến mức độ liên kết với nhà cung cấp và khách hàng, từ đó tác động đến kết quả kinh doanh. Ngoài ra, văn hóa tổ chức là yếu tố tác động điều tiết đến mối quan hệ giữa rủi ro và mức độ liên kết trong chuỗi cung ứng.
6218 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin chi phí đào tạo trong trường đại học công lập / Nguyễn Thị Đào, Nguyễn Năng Phúc // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 31-40 .- 658
Nghiên cứu này được thiết kế để đo lường ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin chi phí đào tạo trong trường đại học công lập ở Việt Nam trên cơ sở phân tích bộ dữ liệu được thu thập từ việc phỏng vấn 172 nhà quản trị ở những đơn vị này. Phương pháp phân tích định lượng được sử dụng kết hợp với thang đo Likert 5 cấp độ để nhận diện và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượngthông tin chi phí đào tạo. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố ảnh hưởng ý nghĩa đến chất lượng thông tin chi phí đào tạo là đặc điểm và quy mô đào tạo, xác định chi phí đào tạo, điều kiện và môi trường làm việc của bộ phận kế toán, trình độ và kỹ năng của nhà quản trị, sự cam kết hỗ trợ của nhà quản trị, hệ thống văn bản quy định thực hiện cơ chế tự chủ tài chính và chế độ kế toán.Trên cơ sở kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra một số gợi ý giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin chi phí đào tạo trong các trường đại học công lập ở Việt Nam.
6219 So sánh mô hình ARIMA và VECM trong dự báo cầu lao động ở các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến Tỉnh Bình Dương / Phạm Ngọc Thành, Đỗ Thị Hoa Liên, Hoàng Võ Hằng Phương // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 41-53 .- 658
Bài viết ứng dụng các mô hình trong phương pháp chuỗi thời gian vào dự báo cầu lao động của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến ở Bình Dương. Trong đó, hai mô hình phổ biến được sử dụng nhiều trong dự báo cầu lao động trong ngắn hạn là ARIMA và VECM được phân tích và so sánh. Mô hình được xây dựng trên dữ liệu từ năm 1996 đến 2014, sau đó dự báo được thực hiện cho các năm 2015 đến 2017 để kiểm tra mức độ chính xác của các mô hình. Kết quả cho thấy cả hai mô hình đều có năng lực dự báo tốt, tuy nhiên, mô hình ARIMA trong trường hợp này có khả năng dự báo chính xác hơn so với mô hình VECM. Bên cạnh đó, nhóm tác giả tìm thấy vai trò quan trọng của vốn sản xuất đối với sự thay đổi cầu lao động ngành công nghiệp chế biến Bình Dương cả trong ngắn hạn và dài hạn.
6220 Tốc độ điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt nắm giữ tối ưu của các công ty niêm yết Việt Nam / Nguyễn Thị Uyên Uyên, Phạm Hoàng Anh // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 54-64 .- 332.1
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định tốc độ điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt tối ưu của các công ty niêm yết Việt Nam. Với dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017, tạo thành mẫu 5.499 công ty – năm quan sát, thông qua phương pháp hồi quy GMM hệ thống hai bước với kỹ thuật “robust” và “small”, nhóm tác giả đã cho thấy các công ty niêm yết Việt Nam luôn có xu hướng điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt tối ưu với tốc độ là 38,95%. Thêm vào đó, giữa các nhóm công ty khác nhau1 thì tốc độ điều chỉnh cũng khác nhau, với các công ty tạo ra dòng tiền tự do càng nhiều thì tốc độ điều chỉnh càng nhanh.