CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
6211 Hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất rau an toàn tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế / Nguyễn Quang Phục // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 281 .- Tr. 64-72 .- 330

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình sản xuất rau an toàn tại huyện miền núi A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) đã được sử dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình sản xuất rau an toàn trên địa bàn huyện A Lưới đem lại hiệu quả cao về kinh tế, tạo việc làm ổn định và khai thác được lợi thế về điều kiện tự nhiên cũng như kinh nghiệm trồng rau của chủ hộ. Đó là tín hiệu rất tích cực trong chuyển đổi mô hình sản xuất của người dân địa phương. Để nâng cao hiệu quả của mô hình cũng như nhân rộng mô hình sản xuất rau an toàn trong thời gian tới, trách nhiệm của chính quyền địa phương trong giám sát kỷ thuật, đánh giá, tư vấn kịp thời cho các hộ đóng một vai trò quan trọng.

6212 Vai trò trung gian của sự cam kết trong mối quan hệ giữa sự công bằng trong tổ chức và kết quả làm việc của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Minh Hải // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 281 .- Tr. 83-91 .- 658

Hiệu quả làm việc của nhân viên là một trong những vấn đề thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học và các nhà quản trị từ trước đến nay. Những yếu tố quyết định kết quả làm việc của nhân viên có thể phân thành nhiều nhóm bao gồm yếu tố thuộc về tổ chức, yếu tố thuộc về nhân viên, yếu tố thuộc về đặc điểm công việc... Trên cơ sở lý thuyết về sự công bằng và sự cam kết của nhân viên, nghiên cứu được thực hiện với mục đích kiểm định sự tác động trực tiếp và gián tiếp của sự công bằng đối với kết quả làm việc của nhân viên thông qua biến sự cam kết với tổ chức. Nghiên cứu được thực hiện tại thành phố Hồ Chí Minh với kích cỡ mẫu là 327 nhân viên làm việc trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự công bằng trong tổ chức có sự tác động trực tiếp đến kết quả làm việc của nhân viên. Tuy nhiên, sự cam kết không đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa sự công bằng và kết quả làm việc của nhân viên.

6213 Các yếu tố quyết định sự phát triển của doanh nghiệp : trường hợp ngành chế biến chế tạo vùng Tây Nam Bộ / Trần Khánh Hưng, Vũ Hùng Cường // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 12-21 .- 658

Bài viết phân tích vấn đề phát triển của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo vùng Tây Nam Bộ. Sử dụng mô hình MIXED Effect, nghiên cứu phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp. Kết quả mô hình cho thấy, theo tiêu chí phát triển về lượng, yếu tố vốn vẫn là yếu tố quyết định và yếu tố lao động ít ảnh hưởng đến sự phát triển về số lượng doanh nghiệp. Theo tiêu chí phát triển về chất, các doanh nghiệp quy mô lớn hơn hoạt động tốt hơn. Đồng thời, các doanh nghiệp quy mô lớn hơn sử dụng đòn bẩy tài chính hiệu quả hơn. Ngoài ra, một số đặc trưng của doanh nghiệp như địa điểm đặt nhà xưởng hay tình trạng tham gia xuất khẩu cũng có ảnh hưởng đến sự phát triển doanh nghiệp về mặt chất, nhưng mức độ ảnh hưởng này khác nhau giữa các ngành. Với đa số các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, kết quả gợi ý ưu tiên chính sách giúp doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất như chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn. Bên cạnh đó, cần có chính sách phát triển các khu công nghiệp, khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghiệp, và tham gia xuất khẩu.

6214 Nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, rủi ro và liên kết chuỗi cung ứng thủy sản / Nguyễn Thành Hiếu, Nguyễn Ngọc Trung, Nguyễn Hữu Sáng // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 22-30 .- 658

Xác định mối quan hệ giữa văn hóa tổ chức, rủi ro và mức độ liên kết giữa các tổ chức tham gia chuỗi cung ứng thủy sản ở tỉnh Bến Tre. 300 phiếu hỏi được gửi trực tiếp đến đối tượng điều tra và thu thập trong 2 tháng. 153 phiếu hợp lệ được đưa vào phân tích. Dữ liệu được phân tích theo qui trình chuẩn gồm các bước từ phân tích nhân tố đến kiểm định độ tin cậy và phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM để kiểm định các giả thiết. Kết quả chỉ ra rằng rủi ro từ nguồn cung và thị trường ảnh hưởng đến mức độ liên kết với nhà cung cấp và khách hàng, từ đó tác động đến kết quả kinh doanh. Ngoài ra, văn hóa tổ chức là yếu tố tác động điều tiết đến mối quan hệ giữa rủi ro và mức độ liên kết trong chuỗi cung ứng.

6215 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin chi phí đào tạo trong trường đại học công lập / Nguyễn Thị Đào, Nguyễn Năng Phúc // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 31-40 .- 658

Nghiên cứu này được thiết kế để đo lường ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin chi phí đào tạo trong trường đại học công lập ở Việt Nam trên cơ sở phân tích bộ dữ liệu được thu thập từ việc phỏng vấn 172 nhà quản trị ở những đơn vị này. Phương pháp phân tích định lượng được sử dụng kết hợp với thang đo Likert 5 cấp độ để nhận diện và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượngthông tin chi phí đào tạo. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 7 nhân tố ảnh hưởng ý nghĩa đến chất lượng thông tin chi phí đào tạo là đặc điểm và quy mô đào tạo, xác định chi phí đào tạo, điều kiện và môi trường làm việc của bộ phận kế toán, trình độ và kỹ năng của nhà quản trị, sự cam kết hỗ trợ của nhà quản trị, hệ thống văn bản quy định thực hiện cơ chế tự chủ tài chính và chế độ kế toán.Trên cơ sở kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra một số gợi ý giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin chi phí đào tạo trong các trường đại học công lập ở Việt Nam.

6216 So sánh mô hình ARIMA và VECM trong dự báo cầu lao động ở các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến Tỉnh Bình Dương / Phạm Ngọc Thành, Đỗ Thị Hoa Liên, Hoàng Võ Hằng Phương // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 41-53 .- 658

Bài viết ứng dụng các mô hình trong phương pháp chuỗi thời gian vào dự báo cầu lao động của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến ở Bình Dương. Trong đó, hai mô hình phổ biến được sử dụng nhiều trong dự báo cầu lao động trong ngắn hạn là ARIMA và VECM được phân tích và so sánh. Mô hình được xây dựng trên dữ liệu từ năm 1996 đến 2014, sau đó dự báo được thực hiện cho các năm 2015 đến 2017 để kiểm tra mức độ chính xác của các mô hình. Kết quả cho thấy cả hai mô hình đều có năng lực dự báo tốt, tuy nhiên, mô hình ARIMA trong trường hợp này có khả năng dự báo chính xác hơn so với mô hình VECM. Bên cạnh đó, nhóm tác giả tìm thấy vai trò quan trọng của vốn sản xuất đối với sự thay đổi cầu lao động ngành công nghiệp chế biến Bình Dương cả trong ngắn hạn và dài hạn.

6217 Tốc độ điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt nắm giữ tối ưu của các công ty niêm yết Việt Nam / Nguyễn Thị Uyên Uyên, Phạm Hoàng Anh // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 54-64 .- 332.1

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm kiểm định tốc độ điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt tối ưu của các công ty niêm yết Việt Nam. Với dữ liệu được thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết Việt Nam trong giai đoạn 2007-2017, tạo thành mẫu 5.499 công ty – năm quan sát, thông qua phương pháp hồi quy GMM hệ thống hai bước với kỹ thuật “robust” và “small”, nhóm tác giả đã cho thấy các công ty niêm yết Việt Nam luôn có xu hướng điều chỉnh lượng tiền mặt nắm giữ hướng về lượng tiền mặt tối ưu với tốc độ là 38,95%. Thêm vào đó, giữa các nhóm công ty khác nhau1 thì tốc độ điều chỉnh cũng khác nhau, với các công ty tạo ra dòng tiền tự do càng nhiều thì tốc độ điều chỉnh càng nhanh.

6218 Vai trò trung gian của việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng và ảnh hưởng điều tiết của sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ / Nguyễn Thị Thu, Lê Mộng Huyền // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 65-75 .- 657

Nghiên cứu được thực hiện nhằm kiểm định vai trò trung gian của việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng trong mối quan hệ giữa chiến lược tập trung vào khách hàng và kết quả hoạt động kinh doanh phương diện khách hàng. Đồng thời, nghiên cứu cũng kiểm định vai trò điều tiết của sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ cho hai mối quan hệ: (1) giữa chiến lược tập trung vào khách hàng và việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng và (2) giữa việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng và kết quả hoạt động kinh doanh phương diện khách hàng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập thông qua một bảng khảo sát tự đánh giá được gửi đến các nhà quản trị cấp cao và cấp trung đang làm việc trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam. Kết quả phân tích dữ liệu thu được từ 187 phản hồi cho thấy hầu hết các giả thuyết được ủng hộ, ngoại trừ sự thay đổi nhanh chóng về công nghệ không đóng vai trò điều tiết cho mối quan hệ giữa chiến lược tập trung vào khách hàng và việc sử dụng thông tin kế toán quản trị phạm vi rộng.

6219 Chất lượng dịch vụ cảng biển: Trường hợp cảng quốc tế Tân Cảng - Cái Mép / Nguyễn Quang Vinh, Phan Mạnh Trà // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 76-83 .- 658

Phát triển cảng biển nói chung và nâng cao chất lượng dịch vụ cảng biển nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong chiến lược biển của Việt Nam. Cụm cảng Cái Mép - Thị Vải có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và cả vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Nghiên cứu đánh giá chất lượng dịch vụ Cảng Quốc tế Tân Cảng – Cái Mép và đề xuất hàm ý quản trị tương ứng. Khảo sát 290 khách hàng doanh nghiệp cho thấy 5 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ Cảng gồm Nguồn lực, Quá trình phục vụ, Năng lực quản lý, Hình ảnh và trách nhiệm xã hội, và Kết quả thực hiện. Nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác nhau trong đánh giá chất lượng dịch vụ cảng biển giữa các khách hàng thuộc lĩnh vực kinh doanh khác nhau. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo đối với nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ tại các cảng biển khác ở Việt Nam.

6220 Tác động của chất lượng dịch vụ khuyến nông tới sự hài lòng của nông dân : nghiên cứu ở vùng đồng bằng Sông Hồng / Nguyễn Thị Thanh // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 282 .- Tr. 84-93 .- 658

Bài báo nghiên cứu tác động của các yếu tố chất lượng dịch vụ khuyến nông tới sự hài lòng của nông dân vùng đồng bằng sông Hồng. Để thực hiện điều này, nghiên cứu sử dụng mô hình chất lượng dịch vụ Servqual và mở rộng một số tiêu chí phù hợp với lĩnh vực dịch vụ công trong nông nghiệp. Kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và hồi quy đa biến được áp dụng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát tại 3 tỉnh đại diện của vùng là Hà Nội, Hà Nam và Thái Bình, đạt 283 phiếu. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 yếu tố (1) năng lực và thái độ phục vụ của cán bộ, (2) tính trách nhiệm của đơn vị triển khai và (3) tính minh bạch và giải trình của hoạt động cung ứng, có ảnh hưởng tích cực lên sự hài lòng của nông dân về dịch vụ khuyến nông trên địa bàn nguyên cứu.