CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
6251 Nhân tố tác động đến năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp công nghiệp tỉnh Quảng Nam / Đặng Thu Hương // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 280 .- Tr. 96-104 .- 658

Năng lực đổi mới sáng tạo là yếu tố quan trọng quyết định đến khả năng cạnh tranh và sự phát triển trong dài hạn của doanh nghiệp. Để từng bước nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp, việc nghiên cứu, đánh giá và xem xét mối quan hệ giữa các nhân tố đến năng lực đổi mới sáng tạo là rất quan trọng. Bài viết hướng tới mục tiêu phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp tỉnh Quảng Nam trong một số ngành điển hình như vật liệu xây dựng, dệt may, công nghiệp chế biến, cơ khí. Nghiên cứu cho thấy các nhân tố như nhân tố lãnh đạo, nhân tố văn hóa, nhân tố quản lý, nhân tố chính sách, nhân tố nguồn nhân lực sáng tạo, nhân tố hợp tác, nhân tố tri thức, nhân tố tài chính có ảnh hưởng khác nhau đến các loại hình đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp như đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình sản xuất, đổi mới marketing và tìm kiếm thị trường, đổi mới tổ chức. Qua đó việc khuyến nghị chính sách để nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo cũng được xây dựng dựa trên tác động của các nhân tố đến từng loại hình đổi mới của doanh nghiệp.

6252 Tác động từ dịch vụ ngân hàng điện tử đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam / Nguyễn Thị Hồng Nhung, Nguyễn Kim Đức // Ngân hàng .- 2020 .- Số 23 .- Tr. 24-30 .- 332.12

Trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu; Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu; kết quả nghiên cứu; một số đề xuất phát triển dịch vụ DB tại Việt Nam.

6253 Thực thi có hiệu quả chính sách bảo hiểm tiền gửi để góp phần phát triển bền vững hệ thống quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam / Nguyễn Đình Lưu và Ban nghiên cứu nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ năm 2019 // Ngân hàng .- 2020 .- Số 23 .- Tr. 36-41 .- 332.12

Vài nét về thực trạng hệ thống QTDND; vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong hỗ trợ phát triển bền vững hệ thống quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam; khó khăn, vướng mắc; một số giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả chính sách bảo hiểm tiền gửi để góp phần phát triển bền vững hệ thống quỹ tín dụng nhân dân ở Việt Nam đến năm 2025.

6254 Ảnh hưởng của dòng vốn vào đến tỷ giá thực : trường hợp các nước Đông Á / Nguyễn Thị Hồng Vinh // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 3 .- Tr. 5-22 .- 332.1

Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của dòng vốn vào đến tỷ giá thực tại các nước Đông Á theo lý thuyết mô hình Salter-Swan-Corden-Dornbusch. Thông qua phương pháp dữ liệu bảng tác động cố định và Moment tổng quát dạng hệ thống (Generalized Method of Moments  GMM), nghiên cứu kiểm tra tác động của các thành phần dòng vốn vào đến tỷ giá thực ở các nước Đông Á giai đoạn 2005-2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy các thành phần dòng vốn khác nhau tác động đến tỷ giá thực khác nhau. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê đến tỷ giá thực, trong khi đó, đầu tư gián tiếp nước ngoài có tác động ngược chiều đến tỷ giá thực. Điều này hàm ý việc gia tăng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào sẽ làm tỷ giá thực tăng, trong khi đó, việc gia tăng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào sẽ làm tỷ giá thực giảm. Ngoài ra, tỷ giá thực còn chịu tác động bởi độ mở thương mại, tỷ lệ thương mại, nợ và chi tiêu của chính phủ. Kết quả này sẽ giúp các quốc gia Đông Á định hướng giám sát dòng vốn vào và có các chính sách an toàn vĩ mô phù hợp trước áp lực tỷ giá.

6255 Phụ thuộc không gian của tham nhũng ở Việt Nam / Lê Quang Cảnh, Đặng Trung Chính // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 3 .- Tr. 23-42 .- 330

Các nghiên cứu về tham nhũng trước đây hầu hết bỏ qua tác động lan truyền không gian của tham nhũng. Bài viết này lập luận rằng có sự phụ thuộc không gian của tham nhũng giữa các địa phương ở Việt Nam. Sử dụng số liệu bảng cân đối ở cấp tỉnh trích từ Khảo sát năng lực cạnh tranh cấp tỉnh và Tổng cục Thống kê, nghiên cứu này đã kiểm định và kết luận mô hình phụ thuộc không gian Durbin với hiệu ứng cố định là mô hình ước lượng phù hợp. Kết quả ước lượng cho thấy có sự phụ thuộc không gian của tham nhũng giữa các tỉnh ở Việt Nam. Sự ảnh hưởng lan truyền không gian của tham nhũng được giải thích thông qua cơ chế học hỏi từ người di cư, thể chế pháp lý và tính minh bạch trong quản trị địa phương. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm này làm cơ sở cho việc đề xuất những chính sách phòng, chống tham nhũng và sự lây lan của tham nhũng ở Việt Nam.

6256 Tác động của đặc trưng hội đồng quản trị đến hiệu quả tài chính của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Chu Thị Thu Thuỷ // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 3 .- Tr. 43-60 .- 658

Xác định ảnh hưởng của đặc trưng hội đồng quản trị đến hiệu quả tài chính tại các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu ứng dụng phương pháp hồi quy bảng với sự hỗ trợ của phần mềm Stata 14. Mẫu nghiên cứu được sử dụng gồm 654 công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2016¬–2018. Nghiên cứu đã chứng minh được ảnh hưởng của đặc trưng hội đồng quản trị đến hiệu quả tài chính của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, trong đó: Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và quy mô hội đồng quản trị có ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả tài chính (ROA) tại mức ý nghĩa 5%; số lượng các cuộc họp của hội đồng quản trị và số lượng các thành viên độc lập trong hội đồng quản trị có ảnh hưởng đáng kể và ngược chiều đến hiệu quả tài chính; tuy nhiên, sự đa dạng về giới tính của hội đồng quản trị không có ý nghĩa thống kê tại mức ý nghĩa 5%.

6257 Trí tuệ văn hóa và kết quả công việc của người lao động : Vai trò của điều chỉnh văn hóa và gắn kết công việc / Phan Quốc Tấn, Bùi Thị Thanh // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 3 .- Tr. 61-84 .- 658

Nghiên cứu này nhằm kiểm định mối quan hệ giữa trí tuệ văn hóa và kết quả công việc của người lao động qua vai trò trung gian của điều chỉnh văn hóa và gắn kết công việc của người lao động tại các doanh nghiệp FDI trong các khu công nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh. Dữ liệu được thu thập từ 307 người lao động đến từ các tỉnh đang làm việc tại các doanh nghiệp FDI trong các khu công nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy các giả thuyết đều được chấp nhận, trong đó, trí tuệ văn hóa có tác động cùng chiều mạnh đến gắn kết công việc và kết quả công việc; trí tuệ văn hóa tác động không mạnh đến điều chỉnh văn hóa, cũng như điều chỉnh văn hóa tác động yếu đến kết quả công việc; điều chỉnh văn hóa và gắn kết công việc đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa trí tuệ văn hóa với kết quả công việc. Nghiên cứu cũng phát hiện có sự khác biệt giữa nam và nữ, trình độ chuyên môn và thâm niên công tác trong mối quan hệ giữa trí tuệ văn hóa với kết quả công việc; cũng như có sự khác biệt về trình độ chuyên môn và thâm niên công tác trong mối quan hệ giữa gắn kết công việc với kết quả công việc của nhân viên tại các doanh nghiệp FDI trong các khu công nghiệp ở TP. Hồ Chí Minh. Từ kết quả nghiên cứu, một số hàm ý được đề xuất để giúp nhà quản trị của các doanh nghiệp FDI cải thiện chính sách nhân sự nhằm nâng cao trí tuệ văn hóa và gắn kết công việc, từ đó góp phần cải thiện kết quả công việc của nhân viên.

6258 Hoạt động đổi mới và phát triển tài chính : Bằng chứng thực nghiệm tại một số quốc gia Đông Nam Á / Nguyễn Hoàng Minh // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 2 .- Tr. 5-22 .- 332.1

Tìm hiểu mối quan hệ giữa phát triển tài chính và hoạt động đổi mới tại một số quốc gia Đông Nam Á (Việt Nam, Singapore, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Bruney, Philippines). Nghiên cứu thu thập số liệu từ Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới; và sử dụng phương pháp Pooled OLS, Random-Effects, Fixed-Effects. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển định chế tài chính có tác động tích cực đến hoạt động đổi mới và phát triển kinh tế mới là nhân tố thúc đẩy hoạt động đổi mới của một số quốc gia Đông Nam Á. Bên cạnh đó, hoạt động đổi mới của một số quốc gia Đông Nam Á còn rất thấp. Dựa vào kết quả nghiên cứu, các quốc gia Đông Nam Á cần có chính sách phù hợp để phát triển định chế tài chính, đặc biệt là chú trọng vào phát triển tín dụng ngân hàng cho khu vực tư nhân trong nền kinh tế để tạo điều kiện cho các hoạt động đổi mới của khu vực tư nhân phát triển.

6259 Kiệt quệ tài chính và quản trị thu nhập: Bằng chứng thực nghiệm ở các công ty niêm yết tại Việt Nam / Lê Thị Phương Vy // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 2 .- Tr. 23-44 .- 332.1

Bài nghiên cứu này kiểm định ảnh hưởng của kiệt quệ tài chính lên quản trị thu nhập ở các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam giai đoạn 20092017. Tác giả sử dụng phương pháp GMM để kiểm định mối quan hệ này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tồn tại mối quan hệ cùng chiều giữa kiệt quệ tài chính và quản trị thu nhập. Quan trọng hơn, nghiên cứu này khác biệt với những nghiên cứu trước đây ở chỗ tiến hành xem xét mở rộng thêm tác động của cấu trúc sở hữu, quy mô doanh nghiệp và tốc độ tăng trưởng lên mối quan hệ giữa kiệt quệ tài chính và quản trị thu nhập. Kết quả hồi quy cho thấy sở hữu nước ngoài, tốc độ tăng trưởng, và quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng làm giảm tác động cùng chiều của kiệt quệ tài chính đến quản trị thu nhập, trong khi đó, tác động của sở hữu nhà nước lại không có ý nghĩa thống kê.

6260 Tác động của tiêu thụ điện đến lượng khí thải CO2 ở Việt Nam : Đối xứng hay bất đối xứng? / Bùi Hoàng Ngọc // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 2 .- Tr. 45-60 .- 330

Chất lượng môi trường sống thu hút được sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ và người dân. Mục đích của nghiên cứu này là kiểm định khả năng tồn tại tác động bất đối xứng của tiêu thụ điện đến lượng khí thải CO2 ở Việt Nam, giai đoạn 19712017. Ứng dụng phương pháp tự hồi quy phân phối trễ phi tuyến (Non-linear Autoregressive Distributed Lag  NARDL) do Shin và cộng sự (2014) đề xuất, nghiên cứu tìm được bằng chứng thống kê để kết luận tác động của tiêu thụ điện đến lượng khí thải CO2 ở Việt Nam là tác động đối xứng trong ngắn hạn, nhưng bất đối xứng trong dài hạn. Phát hiện mới này đóng góp nhất định về mặt học thuật, nhưng quan trọng hơn, là giúp các cơ quan quản lý nhà nước có thêm bằng chứng thực nghiệm để hoạch định chính sách.