CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
6221 Xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững thông qua đổi mới sáng tạo : kinh nghiệm của hãng Hàng không Singapore và bài học cho Việt Nam / Đỗ Hoàng Phương // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 572 .- Tr. 4-6 .- 658
Bài viết phần tích các chính sách đổi mới sáng tạo tại hãng Hàng không Singapore (SIA), một trường hợp điển hình trong việc tạo lập lợi thế cạnh hanh bền vững để dẫn đầu thị trường toàn cầu. Thông qua nghiên cứu trường hợp của SIA, có thể nhận ra rằng lợi thế cạnh tranh bền vững tới từ việc tạo ra các sản phẩm và dịch vụ khác biệt, sáng tạo đồng thời duy trì hiệu quả trong kinh doanh. Nghiên cứu thông qua đó đưa ra một số gợi ý chính sách cho ngành hàng không của Việt Nam, đồng thời nêu ra một số gợi ý cho các nhà làm chính sách nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của đất nước.
6222 Thực trạng và nguồn tài trợ đối với dự án năng lượng tái tạo ở Việt Nam / Trần Thế Nữ, Đặng Hương Giang // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 572 .- Tr. 7-9 .- 658
Năng lượng tái tạo (NLTT) đang nổi lên như một trong những lĩnh vực được ưu tiên nhất cho đầu tư ở Việt Nam. Mặc dù nhìn nhận có tiềm năng lớn, nhưng việc phát triển các nguồn NLTT trong thời gian qua đối mặt với nhiều bất cập và thách thức, như chi phí đầu tư còn cao, số giờ vận hành nguồn điện thấp, cơ sở hạ tầng lưới điện một số khu vực nhiều tiềm năng về NLTT chưa sẵn sàng để giải phóng công suất... Ngoài ra, còn một bất cập lớn có ý nghĩa quyết định đến các dự án NLTT — nguồn vốn tài trợ cho dự án, bài viết này thông qua tìm hiếu thực trạng nguồn tài trợ, đánh giá các vướng mắc từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nguồn tài trợ dành cho các dự án NLTT.
6223 Phát triển công nghiệp hỗ trợ của Vỉệt Nam để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài sau đại dịch Covid-19 / Đào Thị Thu Hiền // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 572 .- Tr. 10-12 .- 332.63
Bài bài nghiên cứu này nhằm cung cấp một bức tranh tổng thể cho lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ (CNHT) của Việt Nam hiện nay trong bối cảnh trước và sau khi đại dịch Covid-19 xuất hiện dẫn đến nhiều biến động cho nền kinh tế Việt Nam cũng như việc đón nhận dòng đầu tư FDI hiện nay. Một số khó khăn và giải pháp đã được thảo luận không những đem lại sự phát triển bền vững cho lĩnh vực CNHT như một lợi thế cạnh tranh mà còn xây dựng lĩnh vực này là một trong những yếu tố quan trọng khi quyết định đầu tư FDI tại Việt Nam.
6224 Việt Nam tham gia hiện thực hóa Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) từ năm 2016 đến nay : kết quả, hạn chế và một số khuyến nghị / Trần Thị Thanh Tâm, Đinh Ngọc Ruẫn // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 572 .- Tr. 19-21 .- 330
Cộng đồng ASEAN (AC) chính thức tuyên bố thành (31/12/2015), trong đó có Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC). Tham gia hiện thực hóa những mục tiêu trong kế hoạch tổng thể AEC 2025, đến nay, sau gần nửa chặng đường, Việt Nam đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ, nhưng cũng nảy sinh những hạn chế nhất định. Với mong muốn thúc đẩy hơn nữa sự tham gia của Việt Nam vào AEC thời gian tới, chúng tôi mạnh dạn nêu ra một số khuyến nghị trong bài viết này.
6225 Chính sách tín dụng đối với thị trường bất động sản : thực tiễn và kiến nghị giải pháp / Nguyễn Mai Linh // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 572 .- Tr. 28-30 .- 332.1
Thắt chặt tín dụng là một trong nhứng mục tiêu mà chính sách tín dụng đối với thị trường bất động sản (TTBĐS) đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Động thái của Ngân hàng Nhà nước nhằm mục tiêu kiểm soát nguồn vốn vào TTBĐS , thúc đẩy lĩnh vực có giá trị vốn hóa này phát triển theo quỹ đạo lành mạnh, ổn định và minh bạch. Tuy nhiên, chính sách tín dụng khi trở thành thực thể đi vào thực tiễn đã làm nảy sinh nhiều bất cập.
6226 Vai trò của thực tế ảo trong quảng cáo du lịch: Một cách tiếp cận từ mô hình SOR / Hồ Xuân Hướng, Lê Nhật Hạnh, Lê Thị Hạnh Dung // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 1 .- Tr. 48-74 .- 658.8
Thực tế ảo (VR) là một công nghệ mới nổi được áp dụng trong lĩnh vực du lịch, nó cung cấp cho người dùng cơ hội trải nghiệm điểm đến một cách chân thực trong môi trường ảo. Tuy nhiên, nghiên cứu về giá trị trải nghiệm của khách du lịch đối với các điểm đến được quảng bá trong marketing du lịch VR vẫn còn hạn chế. Dựa trên mô hình SOR, nghiên cứu này xây dựng và kiểm định một mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự hiện diện trong môi trường VR, giá trị trải nghiệm về mặt nhận thức và cảm xúc và ý định hành vi của khách du lịch đối với điểm đến. Sử dụng mô hình cấu trúc tuyến tính bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) với phần mềm SmartPLS, kết quả phân tích dựa trên 305 mẫu khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng cảm nhận sự hiện diện tác động đáng kể đến giá trị trải nghiệm về mặt nhận thức và cảm xúc, và các giá trị trải nghiệm này tác động tích cực đến dự định hành vi của khách du lịch sau khi sử dụng du lịch VR. Ngoài ra, nghiên cứu cũng đã chỉ ra giá trị trải nghiệm về mặt nhận thức và cảm xúc là các trung gian quan trọng trong mối quan hệ giữa cảm nhận sự hiện diện trong môi trường VR và ý định hành vi đối với điểm đến của khách du lịch. Kết quả nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng đối với các tổ chức quản lý điểm đến trong việc sử dụng công nghệ VR để quảng bá điểm đến và tạo ra giá trị trải nghiệm cho khách du lịch tiềm năng, từ đó tăng khả năng viếng thăm điểm đến của họ.
6227 Khủng hoảng tài chính thế giới và khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại Việt Nam : cách tiếp cận theo phương pháp Bayes / Phạm Hải Nam // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 1 .- Tr. 29-47 .- 332.12
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của khủng hoảng tài chính thế giới và các yếu tố bên trong, bên ngoài đến khả năng sinh lời (KNSL) của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam. Bằng cách sử dụng dữ liệu của 30 NHTM Việt Nam và dữ liệu vĩ mô từ năm 2007 đến năm 2018, cùng với cách tiếp cận theo phương pháp Bayes và thuật toán lấy mẫu Gibbs, nghiên cứu cho thấy khủng hoảng tài chính, quy mô ngân hàng, vốn ngân hàng, tài sản thanh khoản, tiền gửi khách hàng, dư nợ cho vay có tác động tích cực đến KNSL. Các yếu tố có tác động ngược lại là dự phòng rủi ro tín dụng, chi phí trả lãi, chi phí hoạt động.
6228 Động lực, sự hài lòng và ý định tiếp tục học trực tuyến : ứng dụng thuyết sử dụng và thỏa mãn trong đại dịch Covid-19 / Trần Kim Dung, Trần Trọng Thùy // .- 2020 .- Số 1 .- Tr. 5-28 .- 658
Do tác động nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, các chương trình học tập phải chuyển sang hình thức trực tuyến. Nghiên cứu này cung cấp một mô hình phân tích hệ thống tác động của các thành phần của động lực bao gồm sự thuận tiện, giải trí, chia sẻ kinh nghiệm, tìm kiếm thông tin, và giao tiếp xã hội ứng dụng thuyết sử dụng và thỏa mãn (U&G) trong việc dự báo sự hài lòng và ý định tiếp tục học của sinh viên. Sử dụng mẫu khảo sát của 681 sinh viên học trực tuyến, kết quả nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của động lực lên ý định tiếp tục học trực tuyến thông qua sự hài lòng của sinh viên. Phát hiện này giúp các nhà làm giáo dục phát triển các chiến lược liên quan để phản ứng hiệu quả với những bất ổn và để phát triển bền vững. Theo đó, nghiên cứu này thảo luận các đóng góp để nâng cao chất lượng đào tạo trực tuyến trong thời kỳ đại dịch Covid-19.
6229 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam / Hồ Đình Bảo, Lê Thanh Hà, Lê Quốc Hội // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 279 .- Tr. 2-11 .- 332.63
Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa nguồn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong giai đoạn 1990-2019. Kết quả ước lượng thực nghiệm từ các mô hình VAR và ARDL – ECM cho thấy những bằng chứng thống kê về tác động tích cực của FDI đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam cả trong ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế tuân theo một mối quan hệ phi tuyến. FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng ngay ở thời kỳ hiện tại nhưng có xu hướng tiêu cực ở thời kỳ kế tiếp trước khi phục hồi lại trạng thái tích cực. Xu hướng phi tuyến này cũng đúng cho sự ảnh hưởng của FDI đối với xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, kết quả thực nghiệm từ các mô hình định lượng cũng cho thấy sự ảnh hưởng của dòng vốn FDI đối với lãi suất, lạm phát và tỷ giá hối đoái trong nền kinh tế Việt Nam.
6230 Vai trò của vốn xã hội đến tiếp cận tín dụng của các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa / Bùi Xuân Biên, Hoàng Trần Hậu, Nguyễn Thị Thúy Nga, Trần Thị Phương Dịu // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 279 .- Tr. 12-19 .- 332.12
Nghiên cứu điều tra tác động của vốn xã hội đối với việc tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Sử dụng mô hình kinh tế lượng vi mô với dữ liệu mảng SMEs trong giai đoạn 2009-15, kết quả cho thấy rằng các doanh nhân dành nhiều thời gian hơn cho các mối quan hệ xã hội có nhiều khả năng nhận được khoản vay từ các ngân hàng thương mại và các khoản vốn phi chính thức. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi chủ doanh nghiệp là đảng viên cũng giúp cải thiện tiếp cận tín dụng. Những mối quan hệ tích cực giữa vốn xã hội và tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khuyến nghị các doanh nghiệp cần cải thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng của mạng lưới.





