CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
6191 Áp dụng mô hình ARDL nghiên cứu tác động của các chỉ số giá đến thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Thu Thuỷ, Nguyễn Việt Dũng, Tạ Thúy Quỳnh // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 143 .- Tr. 2-10 .- 332.64

Phân tích tác động của tỷ giá, giá dầu thô và giá vàng thế giới đến thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn tháng 10/2007 đến tháng 10/2019. Sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy (Autoregressive Distributed Lag - ARDL) kết hợp với phương pháp kiểm định đường bao (Bound test) làm cơ sở xác định tác động dài hạn, sau đó dùng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để phân tích tác động ngắn hạn, kết quả thực nghiệm đã chứng minh được mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn giữa các chỉ số giá được lựa chọn với chỉ số VN-Index. Cụ thể, trong dài hạn, tỷ giá hối đoái và giá vàng tác động ngược chiều trong khi giá dầu tác động cùng chiều đến chỉ số VN-Index. Sự biến động trong ngắn hạn sẽ được điều chỉnh trở về trạng thái cân bằng dài hạn với mức độ 6.4%. Dựa trên kết quả nghiên cứu, bài viết đề xuất một vài giải pháp để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam một cách bền vững.

6192 Ứng dụng mô hình ARDL nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. / Đỗ Thị Vân Trang, Đinh Hồng Linh, Lê Thùy Linh // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 143 .- Tr. 11-18 .- 332.63

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đóng một vai trò không nhỏ trong phát triển kinh tế Việt Nam. Với mục đích nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tác động tới thu hút FDI vào Việt Nam kể từ khi mở cửa nền kinh tế cho đến nay, nghiên cứu sử dụng mô hình ARDL để xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố này trong cả ngắn hạn và dài hạn. Kết quả ước lượng cho thấy trong dài hạn, GDP, độ mở thương mại của nền kinh tế, lãi suất và tỷ lệ thất nghiệp có tác động tích cực tới nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong ngắn hạn, nguồn vốn này chịu tác động tích cực của chính nó ngay thời kỳ trước. Lãi suất và tỷ lệ thất nghiệp là những yếu tố có tác động tiêu cực, trong khi GDP và độ mở thương mại của nền kinh tế không có ảnh hưởng đến đến thu hút FDI. Kết quả thực nghiệm này có thể gợi ý một số khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý trong việc điều hành chính sách vĩ mô nhằm thu hút thêm vốn FDI trong thời gian tới.

6193 Nghiên cứu tác động của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề đối với thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn Việt Nam / Vũ Văn Hùng, Hồ Kim Hương // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 143 .- Tr. 19-30 .- 658

Trong nhiều năm qua, Việt Nam có nhiều chính sách hỗ trợ đối với lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng đã tác động tích cực đối với sinh kế của các hộ nông dân cũng như gia tăng thu nhập, xóa đói và giảm nghèo. Trên cơ sở sử dụng dữ liệu sơ cấp thu thập được từ 810 hộ nông dân, 30 cán bộ quản lý và 30 chuyên gia thuộc lĩnh vực nghiên cứu tại ba tỉnh đại diện cho 3 vùng trong cả nước là Hà Giang, Hà Tĩnh và Trà Vinh, nhóm nghiên cứu đã phân tích thực trạng tác động của chính sách hỗ trợ đào tạo nghề đối với thu nhập của hộ gia đình ở nông thôn, từ đó kiến nghị một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách này trong thời gian tới.

6194 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu hộ gia đình ở Đồng bằng Sông Cửu Long / Võ Thị Ánh Nguyệt, Nguyễn Hoàng Minh Trí // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 143 .- Tr. 31-37 .- 330

Nghiên cứu nhằm xác định những tác động của các nhân tố đến mức chi tiêu của người dân Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu “Cuộc điều tra dân số Việt Nam” (VHLSS) năm 2016 và số liệu từ Niên giám thống kê 2016, 2017, 2018. Mô hình hồi quy bội với phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS và mô hình hồi quy phân vị được áp dụng để xây dựng mô hình kinh tế lượng, ước lượng mức tác động của các biến độc lập và so sánh mức tác động giữa các mô hình với nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy các biến ở mô hình hồi quy phân vị có hệ số gần tương đồng với nhau và gần với OLS như biến thu nhập, tuổi, tổng số thành viên của hộ và khu vực trong khi mức ý nghĩa ở một số biến còn lại có sự khác nhau. Nghiên cứu chỉ ra rằng hộ gia đình cần tăng thu nhập kích thích chi tiêu hàng hóa dịch vụ nhằm tăng tổng cầu kích thích sự tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra chính quyền địa phương cần hỗ trợ vay vốn giúp hộ gia đình tăng khả năng sản xuất, đẩy mạnh tham gia các hoạt động nông nghiệp đẩy mạnh gia tăng chi tiêu.

6195 Quản trị tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp Việt Nam - động lực cho sự khác biệt hóa / Nguyễn Quốc Thịnh, Khúc Đại Long, Nguyễn Thu Hương // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 143 .- Tr. 38-44 .- 658

Tài sản trí tuệ trong các doanh nghiệp là một loại tài sản thuộc nhóm tài sản vô hình và trong hầu hết các trường hợp, chúng có giá trị lớn hơn nhiều lần so với tổng tài sản hữu hình. Việc quản lý và khai thác các tài sản trí tuệ trong các doanh nghiệp Việt Nam còn không ít hạn chế, do đó chưa tạo được động lực để phát triển và gia tăng sự khác biệt cho doanh nghiệp - yếu tố căn bản của cạnh tranh hiện đại. Bài viết tập trung mô tả các dạng tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp, từ đó dựa trên những khảo sát thực tế cho thấy khối tài sản này đã được khai thác thế nào trong các doanh nghiệp. Một số gợi ý về quản trị tài sản trí tuệ hy vọng sẽ giúp ích phần nào cho các doanh nghiệp Việt Nam nhằm tạo dựng và duy trì những lợi thế cạnh tranh (dựa trên sự khác biệt) trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.

6196 Ảnh hưởng của chất lượng tích hợp kênh lên sự gắn kết của người tiêu dùng trong bán lẻ đa kênh tại Việt Nam / Đặng Thị Thu Trang, Trương Thị Hiếu Hạnh // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 143 .- Tr. 45-53 .- 658

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ tại cửa hàng, dịch vụ đa kênh đang được chuyển sang đa kênh tích hợp. Việc tích hợp hiệu quả các kênh bán hàng giúp nhà bán lẻ không chỉ tăng trưởng doanh số, tối ưu hóa chi phí phục vụ khách hàng mà còn khiến họ hài lòng, trung thành, gắn kết hơn với nhà bán lẻ. Nghiên cứu này kiểm chứng khung lý thuyết về ảnh hưởng của chất lượng tích hợp kênh bán lẻ cảm nhận đến sự gắn kết của người tiêu dùng trong bối cảnh ngành bán lẻ hàng điện tử tiêu dùng tại Việt Nam. Kết quả phân tích dữ liệu bằng mô hình PLS-SEM cho thấy tác động tích cực của các thuộc tính chất lượng tích hợp kênh, trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng lên sự gắn kết khách hàng thông qua thuộc tính trao quyền cho người tiêu dùng. Kết quả thực nghiệm còn ngụ ý vai trò quan trọng của chất lượng tích hợp kênh cảm nhận trong việc gia tăng sự gắn kết khách hàng nhằm thúc đẩy ý định mua lại và truyền miệng tích cực của họ.

6197 Phong cách lãnh đạo ủy quyền và sự tham gia vào quá trình sáng tạo của cấp dưới / Lê Công Thuận, Bùi Thị Thanh // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 143 .- Tr. 54-60 .- 658

Khám phá và kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia vào quá trình sáng tạo (STGVQTST) của cấp dưới để đáp lại lời kêu gọi của các nghiên cứu trước đây, từ đó đưa ra các định hướng giúp doanh nghiệp đẩy mạnh STGVQTST của nhân viên. Dữ liệu của nghiên cứu này được thu thập từ 348 chuyên viên đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghệ thông tin tại TP. HCM, Bình Dương và Long An. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phong cách lãnh đạo (PCLD) ủy quyền có mối quan hệ cùng chiều với STGVQTST của cấp dưới. Hơn nữa, kỹ năng chuyên môn và tự tin sáng tạo là trung gian từng phần liên kết mối quan hệ này. Thêm vào đó, sự phức tạp của công việc điều tiết ảnh hưởng dương của PCLD ủy quyền lên STGVQTST của cấp dưới. Với kết quả trên, nghiên cứu này có những đóng góp về khía cạnh lý thuyết lẫn thực tiễn.

6198 Nghiên cứu hành vi tín nhiệm dựa trên lý thuyết trò chơi / Nguyễn Chí Đức // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 143 .- Tr. 61-66 .- 658

Bài viết sử dụng lý thuyết trò chơi làm công cụ phân tích hành vi tín nhiệm cá nhân trong các giao dịch kinh tế. Trước tiên, mô hình trò chơi một lần và trò chơi lặp lại được thiết lập để phân tích hành vi ứng xử trong các giao dịch giữa các cá nhân với nhau. Sau đó, mô hình được mở rộng bằng cách đưa thêm một chủ thể là cơ quan nhà nước có chức năng giám sát sự tín nhiệm của các cá nhân để phân tích sự thay đổi hành vi cá nhân trong các giao dịch. Từ kết quả phân tích trên, tác giả kết luận và đề xuất một số kiến nghị xây dựng hệ thống tín nhiệm cá nhân Việt Nam.

6199 Sự tác động của nhận dạng tổ chức, nhận dạng nhân viên - khách hàng và định hướng khách hàng đến sự gắn kết của nhân viên tại các công ty truyền thông trên địa bàn TP.HCM / Trịnh Thùy Anh, Lý Thanh Duy, Nguyễn Phạm Kiến Minh // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 143 .- Tr. 67-75 .- 658

Một trong những thách thức lớn hiện nay tại các công ty là sự thiếu gắn kết của người lao động đối với công việc và điều này do nhiều nguyên nhân gây ra. Bài báo này phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên đối với công việc, bao gồm: sự nhận dạng tổ chức, nhận dạng nhân viên - khách hàng và định hướng khách hàng. Nghiên cứu được thực hiện bằng cách khảo sát trực tuyến với đối tượng là các nhân viên thuộc các công ty truyền thông trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Tiến hành khảo sát 274 bảng hỏi, trong đó 256 bảng hỏi hợp lệ. Các kiểm định và kết quả phân tích cho thấy sự tương quan thuận chiều giữa các nhân tố nói trên đến sự gắn kết với công việc.

6200 Những điểm mới của bộ quy tắc Incoterms 2020 và hàm ý áp dụng trong mua bán hàng hóa quốc tế / Phan Thị Thu Hiền, Phạm Thị Cẩm Anh, Trần Bích Ngọc // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 143 .- Tr. 76-81 .- 658

Bộ quy tắc thương mại quốc tế Incoterms 2020 của Phòng Thương mại quốc tế (ICC) sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2020. Với hành trình 10 năm rà soát, điều chỉnh và bổ sung Incoterms 2010, ICC hi vọng phiên bản mới Incoterms 2020 sẽ là công cụ hữu ích nhằm tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế cũng như đảm bảo an ninh thương mại quốc tế toàn cầu. Bài viết phân tích những điểm mới của Bộ quy tắc thương mại quốc tế Incoterms 2020 nhằm khẳng định tính tất yếu, thực tiễn và sự cần thiết áp dụng trong xu thế phát triển thương mại hàng hóa trên toàn cầu.