CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
5811 Tác động của chủ nghĩa dân tộc đến ý định sử dụng sản phẩm công nghệ mang thương hiệu Việt Nam : trường hợp sản phẩm Vsmart của VinGroup / Nguyễn Việt Dũng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 579 .- Tr. 77-79 .- 658.827

Giới thiệu, nghiên cứu tổng quan và mô hình nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng trực tiếp từ chủ nghĩa dân tộc đến ý định sử dụng dịch vụ của người tiêu dùng Việt Nam đối với sản phẩm công nghệ mang thương hiệu Việt Nam

5812 Chi phí logistics tại Việt Nam : Thực trạng và giải pháp / Đỗ Thị Dinh // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 579 .- Tr. 83-84 .- 650.01

Bài viết điểm qua cách tính chi phí logistics và làm rõ thực trạng chi phí logistics ở Việt Nam hiện nay và đề xuất giải pháp giảm chi phí để nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam cũng như của cả nền kinh tế

5813 Yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lực: hàm ý cho các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam / Hồ Minh Thế // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.67 - 69 .- 658

Quản trị nhân lực là cả một quá trình và có sự tác động từ nhiều phía. Hiện nay, có khá nhiều yếu tố tác động đến quản trị nguồn nhân lựcvà các yếu tố này thường xuyên thay đổi, có thể phân chia thành các nhóm yếu tố tác động cơ bản sau: Nhóm yếu tố thuộc môi trường bên trong như mục tiêu, chiến lược công ty, văn hoá doanh nghiệp, phong cách lãnh đạo của doanh nghiệp ... Bài viết tìm hiểu chi tiết nguồn nhân lực, quản trị nguồn nhân lực và các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị nguồn nhân lực hiện nay.

5814 Tiếp cận thực thi chính sách giảm nghèo đa chiều: thực tiễn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn / Bế Hồng Cúc // .- 2020 .- Số 573 .- Tr.73 - 75 .- 330

Giảm nghèo bền vững là một nội dung trọng tâm của Chiến lược kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 ở Việt Nam nhằm cải thiện từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết ở khu vực miền núi, vùng đồng bằng dân tộc tiểu số (DTTS). Từ năm 2016 đến nay nước ta bắt đầu chuyển sang giai đoạn mới hướng tới giảm nghèo bền vững, đó là tiếp cận giảm nghèo đa chiều theo xu hướng chung của thế giới. Đây là cách tiếp cận có tác động toàn diện hơn đến người nghèo. Bài viết sẽ đề cập đến thực thi chính sách giảm nghèo tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn nhằm làm rõ những hạn chế trong chính sách giảm nghèo mà chính sách địa phương đã triển khai, từ đó đề xuất những giải pháp giảm nghèo đa chiều để góp phần đảm bảo mức sống tối thiểu cho người nghèo về thu nhập cũng như đáp ứng các nhu cầu về dịch vụ xã hội cơ bản cho họ.

5815 Nâng cao hiệu quả marking dịch vụ tại PTSC Quảng Ngãi / Huỳnh Văn Khải // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.76 - 78 .- 658

Marking là một trong những hoạt động quan trọng giúp doanh nghiệp gia tăng doanh thu và lợi nhuận, nhất là đối với các doanh nghiệp dịch vụ. Tuy nhiên, hiện nay, theo nghiên cứu của tác giả, việc triển khai mô hình marking dịch vụ của Công ty Cổ phần Dịch vụ Dầu khí Quảng Ngãi ( PTSC Quảng Ngãi ) vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Vì vậy, thời gian tới, công ty cần có giải pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong vấn đề này.

5816 Vai trò của kinh tế biển đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam / Tô Đê Hạng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.82 - 84 .- 330

Kinh tế biển là lĩnh vực hoạt động và các quan hệ kinh tế diễn ra trên biển cùng với các hoạt động kinh tế khác có liên quan tới hoạt động khai thác biển. Việt Nam là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới. Cùng với xu hướng gia tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền, sẽ bị cạn kiệt trong vài ba thập kỷ tới. Để đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, các lĩnh vực kinh tế liên qua đến biển sẽ ngày càng có vai trò quan trọng.

5817 Sản xuất theo chuỗi giá trị: hướng phát triển mới cho hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Yên / Lê Xuân Đại, Hồ Mai Ly // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.88 - 90 .- 330

Thúc đẩy chuỗi liên kết trong sản xuất nông nghiệp được xem là quan trọng để nâng cao giá trị sản phẩm một cách bền vững. Đặc biệt trong bối cảnh nông nghiệp Phú Yên đang phát triển mạnh mẽ như hiện nay, thì việc liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với xây dựng thương hiệu hàng hoá càng cần thiết, nhằm khắc phục những hạn chế trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTXDVNN).

5818 Chính sách đào tạo đại học theo nhu cầu xã hội: kinh nghiệm của một số quốc gia và bài học cho Việt Nam / Nguyễn Thị Thu Hằng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.98 - 100 .- 658

Những năm gần đây đào tạo theo nhu cầu xã hội là một vấn đề rất được quan tâm nghiên cứu và có nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm của các quốc gia, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý về đào tạo đại học theo nhu cầu xã hội. Chính sách đối với đào tạo theo nhu cầu xã hội tương tự như các chính sách khác, cũng bao gồm mục tiêu, công cụ và biện pháp. điều kiện từ đó đảm bảo, hỗ trợ cũng như thúc đẩy các cơ sở đào tạo thực hiện theo nhu cầu xã hội.

5819 Phẩm chất, năng lực cần có đối với người lãnh đạo giáo dục trong nhà trường ở Việt Nam hiện nay / Lê Văn Gấm, Hồ Đức Hiệp // .- 2020 .- Số 573 .- Tr.101 - 103. .- 658.4

Theo quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về nhà trường ở Việt Nam: " Sự học tập trong nhà trường có ảnh hưởng rất lớn cho tương lai thanh niên và tương lai của thanh niên là tương lai của đất nước mình. Vì vậy, cốt nhất là phải dạy cho học trò biết yêu nước thương nòi ... phải dạy cho họ có chí tự lập tự cường quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ ". Do đó, phẩm chất, năng lực cần có đối với người lãnh đạo cơ sở giáo dục để đáp ứng yêu cầu giai đoạn hiện nay là luôn biết hoàn thiện bản thân mình, luôn trao dồi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

5820 Quan niệm và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nguồn nhân lực khoa học công nghệ / Lưu Minh Trung // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2020 .- Số 573 .- Tr.96 - 97. .- 004

Theo UNESCO, nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người trực tiếp liên quan tới sự ra đời, hoạt động, phát triển, truyền bá và ứng dụng tri thức KH&CN trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học y dược và khoa học nông nghiệp. Theo định nghĩa này, nguồn nhân lực KH&CN không bao gồm những người hoạt động văn hoá nghệ thuật, những nhà hoạt động chính trị, tôn giáo ... Tuy rằng họ có thể được đào tạo qua các trường học chuyên nghiệp cao, các giáo viên phổ thông.