CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
5581 Đánh giá sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ công trực tuyến - Góc nhìn từ những người đã sử dụng dịch vụ / Nguyễn Thị Phương Thảo, Nguyễn Văn Anh // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 149+150 .- Tr. 156-166 .- 658
Nghiên cứu này nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến thông qua dữ liệu thu thập từ khảo sát trực tiếp người dân. Kết quả nghiên cứu cho thấy Chất lượng dịch vụ công trực tuyến, Nhận thức của người dân, Bảo mật và quyền riêng tư, Lòng tin và khả năng tiếp cận có ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Dựa trên kết quả này, nghiên cứu cũng đưa ra một số bàn luận và hàm ý quản trị cho các nhà nghiên cứu cũng như các nhà làm chính sách trong việc nâng cao sự hài lòng của người dân cũng như thu hút thêm sự tham gia của họ đối với dịch vụ công trực tuyến tại Việt Nam.
5582 Nghiên cứu doanh nghiệp học thuật Spin-offs từ các trường đại học trên thế giới và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục đại học Việt Nam / Đinh Văn Toàn // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 149+150 .- Tr. 167-176 .- 658
Bài báo tập trung nghiên cứu về các công ty Spin-offs và các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp này từ các cơ sở giáo dục đại học ở một số quốc gia trên thế giới. Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu học thuật đã công bố và kết quả nghiên cứu thực trạng tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam, bài viết đưa ra các vấn đề cần quan tâm về chính sách và cải cách thể chế đối với giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh yêu cầu cải cách thể chế và môi trường cho phát triển doanh nghiệp từ các trường đại học thì tự chủ toàn diện cho các trường để đổi mới tổ chức, khuyến khích khởi nghiệp và thúc đẩy hoạt động thương mại hóa là một vấn đề cấp bách được đặt ra.
5583 Phát triển doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội / Nguyễn Đình Luận // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 54(64) .- Tr. 10-14 .- 658
Trong những năm qua, hệ thống các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ở VN đã phát triển mạnh mẽ. quá trình ấy, bên cạnh những đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, các doanh nghiệp cũng bộc lộ nhiều yếu kém bất cập. Bài viết này tác giả khái quát một số vấn đề đặt ra trong phát triển hệ thống doanh nghiệp VN trong những năm qua và những vấn đề cần giải quyết để phát triển có hiệu quả và bền vững các doanh nghiệp trong thời gian tới.
5584 Cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á : thực trạng và giải pháp / Trần Trung Kiên, Võ Thị Như Hạnh // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 54(64) .- Tr. 15-21 .- 658
Bài viết kiểm định xu hướng cạnh tranh thuế tại các quốc gia Đông Nam Á trong bối cảnh hội nhập thông qua phân tích thực trạng và phương pháp kiểm định sự tương tác của các đơn vị chéo. Từ cơ sở này, nghiên cứu đánh giá tác động của cạnh tranh thuế đến số thu thuế tại các quốc gia phân tích. Phân tích cho thấy, tồn tại sự tương tác giữa số thu thuế giữa các quốc gia Đông Nam Á trong thời kỳ hội nhập. Trong khi đó, kết quả kiểm định chỉ ra những tác động tích cực của xu hướng cạnh tranh thuế đến chính sách thuế tại các quốc gia Đông Nam Á. Từ kết quả nghiên cứu này, tác giả đề xuất một số khuyến nghị đối với chính sách thuế tại các quốc gia Đông Nam Á trong bối cảnh cạnh tranh thuế hiện nay.
5585 Các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn ngân hàng thương mại Việt Nam / Ngô Hoàng Vũ // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 54(64) .- Tr. 22-30 .- 332.12
Nghiên cứu về các yếu tố tác động đến cấu trúc vốn của các NHTM VN từ 2010 đến 2018. Với số lượng mẫu 28 NHTM VN, kiểu dữ liệu bảng và biến phụ thuộc đại diện cho cấu trúc vốn NHTM là đòn bẩy tài chính, tác giả đã tiến hành các biện pháp hồi quy OLS, FEM, REM. Sau khi tiến hành kiểm định lựa chọn mô hình và kiểm định các khuyết tật, mô hình có hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan. Để khắc phục hiện tượng trên, tác giả tiến hành hồi quy hiệu chỉnh (FGLS). Kết quả, nghiên cứu đã xác định được các yếu tố tác động cùng chiều đến cấu trúc vốn ngân hàng thương mại gồm yếu tố quy mô ngân hàng (SIZE), giá trị tài sản thế chấp (COLL), tăng trưởng (GDP), tăng trưởng tài sản (GROWTH). Ngược lại, yếu tố tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (PROF), tài sản cố định (TANG), yếu tố các ngân hàng có vốn Nhà nước lớn (STATE) tác động ngược chiều đến cấu trúc vốn ngân hàng thương mại VN.
5586 Phân tích cơ chế phối hợp trong giám sát tài chính Việt Nam dựa trên mô hình lý thuyết trò chơi / Hồ Thúy Ái, Nguyễn Chí Đức // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 54(64) .- Tr. 31-37 .- 332.1
Bài viết sử dụng Lý thuyết trò chơi để phân tích hành vi phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong giám sát tài chính. Kết quả phân tích cho thấy việc phối hợp trong giám sát tài chính vẫn còn tồn tại hai vấn đề lớn: (i) Hiệu quả của cơ chế phối hợp trong giám sát tài chính không cao; (ii) Khi bắt đầu phối hợp, các chủ thể giám sát quan tâm đến lợi ích của việc hợp tác, điều đó ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chính sách của chủ thể giám sát. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất xây dựng cơ chế phối hợp giám sát tài chính thông qua Ủy ban giám sát tài chính Quốc gia để tăng cường trao đổi thông tin giữa các bên và đề cao các biện pháp có tính pháp lý trong phối hợp giám sát tài chính, xây dựng cơ chế phù hợp để các cơ quan giám sát tài chính phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả.
5587 Kinh tế chia sẻ và tiềm năng phát triển tại TP. Hồ Chí Minh / Nguyễn Ngọc Đức, Bùi Thái Hà, Nguyễn Thị Hà // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 54(64) .- Tr. 73-78 .- 658
Hoạt động kinh tế chia sẻ vận hành theo phương thức kinh doanh mới, đang góp phần tích cực vào việc tái cấu trúc nhiều ngành nghề kinh tế, nhất là khu vực dịch vụ với nhiều ưu điểm như tăng hiệu quả sử dụng nguồn lực, tạo nhiều cơ hội hơn cho người sử dụng, tăng tính minh bạch và sức cạnh tranh trên thị trường. Tại VN, mô hình kinh tế chia sẻ đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian gần đây, thu hút sự quan tâm tham gia của đông đảo doanh nghiệp và người dân.
5588 Tác động của CPTPP đối với doanh nghiệp kinh doanh cà phê ở Tây Nguyên / Nguyễn Văn Đạt // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 54(64) .- Tr. 79-84 .- 658
Hiệp định Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership – CPTPP) mở ra một sân chơi mới với quy mô thị trường chiếm khoảng 13,5% GDP toàn cầu và bao trùm thị trường gần 500 triệu dân. CPTPP chắc chắn sẽ mang lại cơ hội cho doanh nghiệp nào chủ động đáp ứng với những thay đổi về môi trường kinh doanh. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp cà phê ở Tây Nguyên vẫn chưa chủ động tìm hiểu thông tin, do đó thông tin về các thị trường tiềm năng còn mù mờ. Dự báo trong bối cảnh các điều kiện kinh tế căn bản được giữ nguyên, xuất khẩu của VN có thể sẽ tăng thêm 4,2%, mức tăng xuất khẩu sẽ là 6,9% vào năm 2030, xuất khẩu của VN sang các nước CPTPP sẽ tăng từ 54 tỷ̉ đô-la Mỹ lên 80 tỷ̉ đô-la Mỹ, chiếm 25% tổng lượng xuất khẩu. Đây chính là cơ hội tốt để các doanh nghiệp kinh doanh cà phê ở Tây Nguyên tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu.
5589 Phát triển bền vững điểm tham quan Suối Tiên ở Mũi Né - Phan Thiết / Chung Lê Khang // Phát triển & Hội nhập .- 2021 .- Số 54(64) .- Tr. 85-91 .- 910
Suối Tiên hay Suối Hồng với tài nguyên vô cùng thuận lợi nhưng khai thác du lịch kém hiệu quả, thiếu định hướng và vẫn còn rất nhiều những hoạt động tự phát, không xứng với tiềm năng vốn có của điểm đến. Bằng những dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, bài viết thể hiện các nội dung về tiềm năng, hiện trạng khai thác, chỉ ra những cơ hội và thách thức từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại và đưa ra những định hướng phát triển điểm tham quan suối Tiên trong liên kết vùng, khu vực.
5590 Thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam: Cơ hội và thách thức hậu khủng hoảng COVID-19 / Nguyễn Phúc Quỳnh Như, Vũ Ngọc Phương Trâm // Phát triển & Hội nhập .- 2020 .- Số 54(64) .- Tr. 92-100 .- 658
Ngoài vai trò như một kênh huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để phục vụ cho các dự án đầu tư dài hạn, bảo hiểm nhân thọ (BHNT) còn mang ý nghĩa vô cùng to lớn cho từng cá nhân, tổ chức thông qua việc đảm bảo tài chính trước những rủi ro về bệnh tật, tai nạn, thất nghiệp. Dù chỉ mới có mặt ở VN trong 20 năm nhưng ngành BHNT đã có nhiều đóng góp tích cực cho nền kinh tế và giữ vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an sinh xã hội. Bài viết với mục tiêu cung cấp một cái nhìn khái quát về thực trạng phát triển của thị trường BHNT VN trong giai đoạn 2015-2019 cũng như phân tích những cơ hội và thách thức mà những doanh nghiệp BHNT sẽ phải đối mặt hậu khủng hoảng Covid-19 để từ đó làm cơ sở cho những khuyến nghị và giải pháp.





