CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
4791 Vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với phát triển công nghệ tại Việt Nam / Mai Hương Giang, Bùi Huy Trung // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Tr.141 - 143 .- Số 755 .- 330

Hơn 30 năm qua, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đã thu được nhiều thành tựu quan trọng, tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều bất cập hạn chế. Dòng vốn FDI vào lĩnh vực công nghệ cao vẫn còn rất khiêm tốn so với tiềm năng. Bài viết làm rõ vai trò của FDI, đồng thời, chỉ ra những khó khăn, thách thức, từ đó đề xuất giải pháp thu hút hiệu quả nguồn vốn và phát triển công nghệ cao trong tương lai.

4792 Mối quan hệ giữa cơ sở thuế thuế thu nhập doanh nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài / Lê Thu Hằng, Nguyễn Danh Nam // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.144 - 146 .- 658

Bài viết phân tích mối quan hệ nhân quả giữa cơ sở thuế thu nhập doanh nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại 32 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 2009 – 2019. Phân tích thực nghiệm dựa trên dữ liệu bảng của các quốc gia để kiểm tra tính chất nhân quả giữa các biến tạo thành bảng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tồn tại mối quan hệ đồng tích hợp trong dài hạn giữa cơ sở thuế thuế thu nhập doanh nghiêp và FDI. Đồng thời, có mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa các biến trong dữ liệu nghiên cứu, đặc biệt là mối quan hệ giữa FDI từ "thiên đường" thuế và cơ sở thuế thu nhập doanh nghiệp. Qua đó bài viết đưa ra một số hàm ý về chính sách thuế đối với FDI tại các quốc gia, trong đó cần xem xét chọn lọc dòng vốn FDI từ những nhà đầu tư có uy tín, có trách nhiệm xã hội.

4793 Thúc đẩy thị trường tài chính tiêu dùng phát triển lành mạnh, bền vững / Lê Thị Thanh // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.147 - 152 .- 332

Tài chính tiêu dùng được nhiều quốc gia coi là chỉ số để định hướng điều hành kinh tế và điều hành sản xuất, bởi đây là chỉ số có ý nghĩa rất lớn. Nếu phát triển lĩnh vực tài chính tiêu dùng thì sản xuất sẽ phát triển. Tại Việt Nam, thị trường tài chính tiêu dùng được đánh giá là một lĩnh vực rất giàu tiềm năng vì nhu cầu lớn. Bài viết trao đổi về tiềm năng phát triển của lĩnh vực tài chính tiêu dùng, những tồn tại hạn chế và đưa ra một số đề xuất nhằm thúc đẩy thị trường tài chính tiêu dùng phát triển lành mạnh, bền vững tại Việt Nam.

4794 Tác động của đại dịch covid-19 lên chuỗi cung ứng toàn cầu: cơ hội và thách thức đối với Việt Nam / Lê Nguyễn Quỳnh Phương // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.153 - 155 .- 330

Đại dịch Covid-19 đã tác động rất lớn lên chuỗi cung ứng toàn cầu thông qua các cú sốc cung cầu. Nghiên cứu này xem xét tác động của đại dịch covid - 19 kéo dài gây nên sự gián đoạn chuỗi cung ứng của công ty, các ngành công nghiệp ở khắp các quốc gia trên thế giới. Những tác động này có ảnh hưởng không nhỏ đến Việt Nam, tạo nên những thách thức và cơ hội cho Việt Nam trong kiểm soát dịch bệnh, ổn định nền kinh tế thời gian đại dịch diễn ra và trong tương lai.

4795 Tác động của cách mạng công nghệ 4.0 đến nguồn nhân lực tài chính-ngân hàng / Phạm Thị Lâm Anh // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.163 - 165 .- 332.04

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đã, đang tác động mạnh mẽ ở mọi lĩnh vực trên toàn cầu. Lĩnh vực tài chính ngân hàng cũng không nằm ngoài xu thế đó. Cuộc đổ bộ của công nghệ mới vào lĩnh vực tài chính ngân hàng đã tạo ra những đột phá trong lĩnh vực này cả về quy mô và tính hiệu quả.Tuy nhiên cuộc CMCN 4.0 cũng đang cho thấy những tác động rất lớn đến đội ngũ nhân lực trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Trong khi rất nhiều vị trí việc làm sẽ được thay bằng máy móc thì cũng nhiều công việc mới được tạo ra. Bài viết đánh giá tác động của cuộc CMCN 4.0 đến đội ngũ nhân lực trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng trên thế giới và đưa ra một số đề xuất đối với nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng của nước ta.

4796 Li-xăng nhãn hiệu và rủi ro nhượng quyền thương mại “ngoài ý muốn” / Nguyễn Huy Hoàng, Trần Văn Tiến // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 10(751) .- Tr. 13-15 .- 650

Phân tích sự chồng lấn giữa li-xăng nhãn hiệu và NQTM cũng như những hậu quả có thể xảy ra cho các bên do NQTM “ngoài ý muốn”. Li-xăng nhãn hiệu (hay chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu) và nhượng quyền thương mại (NQTM) là hai hoạt động có mối liên hệ khá gần gũi và có nhiều điểm tương đồng. Việc phân biệt giữa li-xăng nhãn hiệu và NQTM không phải lúc nào cũng dễ dàng, nên trên thực tế tại Việt Nam cũng như thế giới, một số doanh nghiệp khi tiến hành li-xăng nhãn hiệu đã gặp phải tình huống NQTM “ngoài ý muốn” khi vô tình các điều khoản hoặc thực tế thực hiện hợp đồng li-xăng nhãn hiệu giữa các bên lại chưa đựng các yếu tố NQTM. Điều này có thể dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho các bên nếu chưa đăng ký NQTM và/hoặc chưa đáp ứng các quy định của pháp luật NQTM.

4797 Tác động của đa dạng hóa đến rủi ro phi hệ thống của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Thị Uyên Uyên, Lê Trương Niệm // Khoa học Thương mại .- 1 .- Số 151 .- Tr. 2-13 .- 658

Với mẫu dữ liệu gồm 240 công ty phi tài chính giai đoạn 2015-2019, bằng phương pháp hồi quy theo quy trình hai bước của Heckman (1979), bài nghiên cứu thực hiện để phân tích sự tác động của đa dạng hỏa đến rủi ro phi hệ thống của các công ty niêm yết ở Việt Nam. Nhóm tác giả phát hiện rằng cả đa dạng hóa khu vực địa lý và đa dạng hóa ngành kinh doanh đều đem lại rủi ro phi hệ thống cho công ty nhưng đa dạng hóa khu vực địa lý đem lại rủi ro phi hệ thống thấp hơn đa dạng hóa ngành kinh doanh. Thêm vào đó, bài nghiên cứu còn phát hiện ra rằng nếu như đa dạng hóa khu vực địa lý giảm thiểu rủi ro phi hệ thống thì đa dạng hóa ngành kinh doanh lại cổ tác động làm gia tăng rủi ro phi hệ thống. Kết quả nghiên cứu khuyến nghị rằng các công ty niêm yết nên thực hiện chiến lược tăng trưởng thông qua đa dạng hóa khu vực địa lý, còn khi đa dạng hóa ngành kinh doanh công ty cần phải phân tích, tính toán cẩn trọng khi quyết định.

4798 Dòng chảy dữ liệu cá nhân xuyên biên giới : thực trạng và khuyến nghị chính sách / Nguyễn Quang Đồng, Nguyễn Lan Phương // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 10(751) .- Tr. 16-18 .- 650

Phân tích dòng chảy dữ liệu cá nhân xuyên biên giới để thấy rõ thực trạng và đưa ra những kiến nghị chính sách phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế số. Dữ liệu cá nhân (DLCN) được chuyển qua biên giới trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh tế, thương mại, khoa học, văn hóa, giải trí…, là một bộ phận của khối dữ liệu được trao đổi trên môi trường internet toàn cầu giữa các quốc gia. Nằm trong nhóm 10 quốc gia có khối lượng DLCN luân chuyển qua biên giới lớn nhất thế giới, Việt Nam cần xác lập các quy định pháp lý cụ thể về vấn đề này theo hướng bảo vệ DLCN, đồng thời vẫn thúc đẩy được dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới thông suốt để phục vụ cho phát triển nền kinh tế số.

4799 Nâng cao hiệu quả truyền thông về đổi mới, ứng dụng và làm chủ công nghệ trong các doanh nghiệp / Trần Quang Tuấn, Đinh Phương Hoàn // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 10(751) .- Tr. 21-22 .- 650

Nghiên cứu nâng cao hiệu quả truyền thông về đổi mới, ứng dụng và làm chủ công nghệ (ĐMƯD&LCCN) trong các doanh nghiệp (DN). Để có cái nhìn đầy đủ về thực trạng truyền thông trong lĩnh vực này tại các doanh nghiệp Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN đã thực hiện đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về đổi mới, ứng dụng và làm chủ công nghệ trong các doanh nghiệp Việt Nam” đã chỉ ra một số vấn đề như: các DN chưa thực sự coi trọng công tác truyền thông về ĐMƯD&LCCN.

4800 Hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam từ lý thuyết đến thực tiễn / Nguyễn Bích Ngọc // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 151 .- Tr. 14-25 .- 332.1

Bài viết nghiên cứu khung lý thuyết về hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô thông qua việc tổng hợp, phân tích khái niệm cũng như cách thức đo lường hiệu quả xã hội tại các tổ chức tài chính vi mô. Dựa trên cơ sở lý thuyết, tác giả đã tiến hành đánh giá hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam thông qua chỉ số SPI - một chỉ số được sử dụng trong đo lường hiệu quả xã hội tại các tổ chức tài chính vi mô với 8 chỉ tiêu bộ phận bao gồm: mức độ tiếp cận (A), tỷ lệ dư nợ bình quân trên thu nhập bình quân (B), chi phí trên một khách hàng vay (C), tỷ lệ khách hàng nữ (D), số lượng chi nhánh (E), tỷ lệ tự vững hoạt động (F), tỷ lệ nợ rủi ro (G) và tỷ lệ xóa nợ (H). Trên cơ sở nguồn dữ liệu thứ cấp kết hợp với dữ liệu từ quá trình phỏng vấn chuyên sâu với đại diện các tổ chức tài chính vi mô cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính vi mô, bài viết đã chỉ ra chi so SPI tại các tổ chức có đăng ký có phần cao hơn so với các tổ chức được cấp phép. Tuy nhiên, chỉ số hiệu quả xã hội của các tổ chức nói chung đều có xu hướng suy giảm từ năm 2011 trở về đây.