CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
4801 Thực trạng và giải pháp phát triển dịch vụ tài chính số tại Việt Nam / Nguyễn Văn Tâm // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.58 - 61 .- 332

Tác động của đại dịch Covid-19 đặt ra yêu cầu cần tăng cường, thúc đẩy sử dụng các dịch vụ tài chính số, đảm bảo sự hoạt động liên tục của hệ thống tài chính, đồng thời góp phần đảm bảo sự an toàn cần thiết cho người dân. Bài viết nghiên cứu các sản phẩm dịch vụ tài chính số hiện nay; nhận diện những rủi ro, thách thức của loại hình dịch vụ tài chính số này và nêu ra giải pháp, thúc đẩy phát triển dịch vụ tài chính số trong trạng thái bình thường mới.

4802 Phát huy vai trò của các tổ chức cung ứng dịch vụ xã hội không vì lợi nhuận / Lê Thu Hằng, Nguyễn Danh Nam // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.88 - 92 .- 332

Dịch vụ xã hội là những dịch vụ đáp ứng các nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo phúc lợi và công bằng xã hội, đề cao giá trị đạo lý, nhân văn, vì con người, là hoạt động mang bản chất kinh tế - xã hội. Khi nói đến hoạt động cung ứng dịch vụ xã hội, thường nhắc đến vai trò của nhà nước mà đại diện cung cấp là các chủ thể thuộc khu vực công. Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến vấn đề các tổ chức không vì lợi nhuận bởi chúng có vai trò quan trọng trong việc cung ứng các dịch vụ xã hội.

4803 Giải pháp để doanh nghiệp nhỏ và vừa trụ vững trong đại dịch covid-19 / Trương Thu Phương, Đỗ Văn Chúc // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.72 - 74 .- 658

Theo thống kê, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam, đóng góp tới 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và thu hút hơn 5 triệu lao động. Mặc dù, có vai trò quan trọng, song khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp khá nhiều khó khăn, thách thức, nhất khi đại dịch Covid-19 bùng phát và lan rộng.Bài viết nghiên cứu thực trạng phát triển cũng như nhận diện những tồn tại, khó khăn của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, bài viết đề xuất giải pháp giúp khu vực doanh nghiệp này trụ vững trong đại dịch covid-19

4804 Định hướng hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam / Nguyễn Thị Hương // Tài chính - Kỳ 2 .- 2021 .- Số 755 .- Tr.78 - 81 .- 332.04

Hệ thống kiểm soát nội bộ ngày càng đóng vai trò quan trọng, đảm bảo tính an toàn và hiệu quả trong hoạt động của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, trên thực tế, các ngân hàng thương mại đều khó khăn trong việc thiết lập và vận hành hệ thống này, mặc dù đã có quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của Ngân hàng Nhà nước tại Thông tư 13/2018/TT-NHNN. Bài viết đề xuất giải pháp cho các ngân hàng thương mại Việt Nam hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ theo các thông lệ quốc tế được thừa nhận.

4805 Li-xăng nhãn hiệu và rủi ro nhượng quyền thương mại “ngoài ý muốn” / Nguyễn Huy Hoàng, Trần Văn Tiến // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 10(751) .- Tr. 13-15 .- 650

Phân tích sự chồng lấn giữa li-xăng nhãn hiệu và NQTM cũng như những hậu quả có thể xảy ra cho các bên do NQTM “ngoài ý muốn”. Li-xăng nhãn hiệu (hay chuyển quyền sử dụng nhãn hiệu) và nhượng quyền thương mại (NQTM) là hai hoạt động có mối liên hệ khá gần gũi và có nhiều điểm tương đồng. Việc phân biệt giữa li-xăng nhãn hiệu và NQTM không phải lúc nào cũng dễ dàng, nên trên thực tế tại Việt Nam cũng như thế giới, một số doanh nghiệp khi tiến hành li-xăng nhãn hiệu đã gặp phải tình huống NQTM “ngoài ý muốn” khi vô tình các điều khoản hoặc thực tế thực hiện hợp đồng li-xăng nhãn hiệu giữa các bên lại chưa đựng các yếu tố NQTM. Điều này có thể dẫn đến hậu quả pháp lý bất lợi cho các bên nếu chưa đăng ký NQTM và/hoặc chưa đáp ứng các quy định của pháp luật NQTM.

4806 Tác động của đa dạng hóa đến rủi ro phi hệ thống của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn Thị Uyên Uyên, Lê Trương Niệm // Khoa học Thương mại .- 1 .- Số 151 .- Tr. 2-13 .- 658

Với mẫu dữ liệu gồm 240 công ty phi tài chính giai đoạn 2015-2019, bằng phương pháp hồi quy theo quy trình hai bước của Heckman (1979), bài nghiên cứu thực hiện để phân tích sự tác động của đa dạng hỏa đến rủi ro phi hệ thống của các công ty niêm yết ở Việt Nam. Nhóm tác giả phát hiện rằng cả đa dạng hóa khu vực địa lý và đa dạng hóa ngành kinh doanh đều đem lại rủi ro phi hệ thống cho công ty nhưng đa dạng hóa khu vực địa lý đem lại rủi ro phi hệ thống thấp hơn đa dạng hóa ngành kinh doanh. Thêm vào đó, bài nghiên cứu còn phát hiện ra rằng nếu như đa dạng hóa khu vực địa lý giảm thiểu rủi ro phi hệ thống thì đa dạng hóa ngành kinh doanh lại cổ tác động làm gia tăng rủi ro phi hệ thống. Kết quả nghiên cứu khuyến nghị rằng các công ty niêm yết nên thực hiện chiến lược tăng trưởng thông qua đa dạng hóa khu vực địa lý, còn khi đa dạng hóa ngành kinh doanh công ty cần phải phân tích, tính toán cẩn trọng khi quyết định.

4807 Dòng chảy dữ liệu cá nhân xuyên biên giới : thực trạng và khuyến nghị chính sách / Nguyễn Quang Đồng, Nguyễn Lan Phương // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 10(751) .- Tr. 16-18 .- 650

Phân tích dòng chảy dữ liệu cá nhân xuyên biên giới để thấy rõ thực trạng và đưa ra những kiến nghị chính sách phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế số. Dữ liệu cá nhân (DLCN) được chuyển qua biên giới trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh tế, thương mại, khoa học, văn hóa, giải trí…, là một bộ phận của khối dữ liệu được trao đổi trên môi trường internet toàn cầu giữa các quốc gia. Nằm trong nhóm 10 quốc gia có khối lượng DLCN luân chuyển qua biên giới lớn nhất thế giới, Việt Nam cần xác lập các quy định pháp lý cụ thể về vấn đề này theo hướng bảo vệ DLCN, đồng thời vẫn thúc đẩy được dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới thông suốt để phục vụ cho phát triển nền kinh tế số.

4808 Nâng cao hiệu quả truyền thông về đổi mới, ứng dụng và làm chủ công nghệ trong các doanh nghiệp / Trần Quang Tuấn, Đinh Phương Hoàn // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 10(751) .- Tr. 21-22 .- 650

Nghiên cứu nâng cao hiệu quả truyền thông về đổi mới, ứng dụng và làm chủ công nghệ (ĐMƯD&LCCN) trong các doanh nghiệp (DN). Để có cái nhìn đầy đủ về thực trạng truyền thông trong lĩnh vực này tại các doanh nghiệp Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN đã thực hiện đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về đổi mới, ứng dụng và làm chủ công nghệ trong các doanh nghiệp Việt Nam” đã chỉ ra một số vấn đề như: các DN chưa thực sự coi trọng công tác truyền thông về ĐMƯD&LCCN.

4809 Hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam từ lý thuyết đến thực tiễn / Nguyễn Bích Ngọc // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 151 .- Tr. 14-25 .- 332.1

Bài viết nghiên cứu khung lý thuyết về hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô thông qua việc tổng hợp, phân tích khái niệm cũng như cách thức đo lường hiệu quả xã hội tại các tổ chức tài chính vi mô. Dựa trên cơ sở lý thuyết, tác giả đã tiến hành đánh giá hiệu quả xã hội của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam thông qua chỉ số SPI - một chỉ số được sử dụng trong đo lường hiệu quả xã hội tại các tổ chức tài chính vi mô với 8 chỉ tiêu bộ phận bao gồm: mức độ tiếp cận (A), tỷ lệ dư nợ bình quân trên thu nhập bình quân (B), chi phí trên một khách hàng vay (C), tỷ lệ khách hàng nữ (D), số lượng chi nhánh (E), tỷ lệ tự vững hoạt động (F), tỷ lệ nợ rủi ro (G) và tỷ lệ xóa nợ (H). Trên cơ sở nguồn dữ liệu thứ cấp kết hợp với dữ liệu từ quá trình phỏng vấn chuyên sâu với đại diện các tổ chức tài chính vi mô cũng như các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính vi mô, bài viết đã chỉ ra chi so SPI tại các tổ chức có đăng ký có phần cao hơn so với các tổ chức được cấp phép. Tuy nhiên, chỉ số hiệu quả xã hội của các tổ chức nói chung đều có xu hướng suy giảm từ năm 2011 trở về đây.

4810 Ảnh hưởng của lợi thế thương mại đến giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam market / Đoàn Thị Hồng Nhung // Khoa học Thương mại .- 2021 .- Số 151 .- Tr. 26-34 .- 658

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định lợi thế thương mại có ảnh hưởng tích cực đến giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán (McCarthy và Schneider, 1995: Qureshi và Ashraf, 2013). Điều này cho thấy giá trị thị trường của các công ty biến động tăng khỉ thông tin lợi thế thương mại được công bố trên báo cáo tài chính hợp nhất vì các nhà đầu tư cho rằng lợi thế thương mại là một tài sản sẽ mang lại những lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp. Tại Việt Nam, phương pháp kế toán lợi thế thương mại được điều chỉnh thay đổi theo hướng phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế. Kết quả là thông tin lợi thế thương mại được công bố trên báo cáo tài chính cũng thay đổi. Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá ảnh hưởng của lợi thế thương mại đến giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh Bộ Tài Chính ban hành thông tư 202/2014/TT-BTC để điều chỉnh thay đổi phương pháp kế toán lợi thế thương mại. Dữ liệu nghiên cứu gôm 872 quan sát của 109 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong 8 năm từ 2010 đến 2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy lợi thế thương mại có ảnh hưởng tích cực lên giá trị thị trường của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng chưa chứng minh được ảnh hưởng của lợi thế thương mại đến giá trị thị trường của các công ty niêm yết có sự khác nhau trước và sau khi Bộ Tài Chính ban hành thông tư 202/2014/TT-BTC.