CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
31 Kinh nghiệm về tổ chức hệ thống logistics ngược qua nghiên cứu điển hình và bài học đối với Việt Nam / Trần Thu Hương // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2018 .- Số 113 .- Tr. 61 - 72 .- 658
Tại Việt Nam hiện nay, trong khi khối lượng rác thải rắn phát sinh trên cả nước ước khoảng 28 triệu tấn/năm với tốc độ tăng 10%/năm, tỷ lệ thu gom đạt khoảng 83 - 85% ở khu vực đô thị và 40 - 50% ở khu vực nông thôn thì tỷ lệ tái chế, tái sử dụng rất thấp, chỉ đạt khoảng 10 - 12%. Thực trạng này xuất phát chủ yếu từ nguyên nhân, đó là Việt Nam chưa tổ chức được một hệ thống logistics ngược hiệu quả để thu hồi, tái chế, tái sử dụng các sản phẩm loại bỏ và chất thải từ quá trình sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Do đó, bài viết này tập trung vào việc phân tích kinh nghiệm tổ chức hệ thống logistics ngược tại một số quốc gia trên thế giới; từ đó rút ra bài học cho Việt Nam.
32 Các yếu tố tác động đến thu nhập ban điều hành : bằng chứng từ các công ty niêm yết trên sàn HOSE / Vũ Xuân Thủy // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2018 .- Số 113 .- Tr. 43 - 52 .- 658
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định các nhóm yếu tố cơ bản tác động đến tổng thu nhập (lương, thưởng) Ban điều hành hay Ban giám đốc (BOE). Trên cơ sở khảo sát các khung lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm liên quan, các yếu tố này bao gồm: Quy mô hội đồng quản trị (HĐQT), Quy mô doanh nghiệp, Tăng trưởng, Hiệu quả hoạt động. Mô hình nghiên cứu được thực hiện thông qua việc phân tích khảo sát 40 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) với 200 quan sát giai đoạn 2009 - 2014. Bằng phương pháp ảnh hưởng ngẫu nhiên, kết quả thực nghiệm cho thấy: Quy mô công ty và quy mô HĐQT là hai yếu tố có tác động tích cực và đáng kể đến thu nhập ban điều hành của các công ty niêm yết trong diện nghiên cứu. Trong khi đó, hiệu quả công ty có tác động yếu đến thu nhập ban điều hành, còn yếu tố tăng trưởng công ty dựa trên sự chênh lệch giá trị thị trường và giá trị sổ sách mặc dù được kỳ vọng là yếu tố quan trọng tác động tới thu nhập ban điều hành thì lại không có ý nghĩa thống kê.
33 Ngân hàng thương mại Việt Nam trước làn sóng Fintech / Đinh Thị Phương Anh // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2018 .- Số 113 .- Tr. 12 - 19 .- 658
Bài viết đưa ra những khái quát sơ lược nhất về sự phát triển của các công ty Fintech trên thế giới và Việt Nam hiện nay, qua đó lý giải áp lực cạnh tranh đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam trước làn sóng này và đặt ra những vấn đề mà các ngân hàng sẽ đối mặt trong thời gian tới.
34 Điều chỉnh lợi nhuận của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam : phân tích thực nghiệm và nhận diện các nhân tố ảnh hưởng / Phạm Đức Hiếu // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2018 .- Số 113 .- Tr. 2 - 12 .- 658
Bài viết đã làm rõ hai vấn đề cơ bản: Nhận diện sự tồn tại của hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết, và phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận như ngành nghề kinh doanh, lựa chọn hãng kiểm toán độc lập và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Các phát hiện của bài viết góp phần bổ sung cho các nghiên cứu còn khá hạn chế về điều chỉnh lợi nhuận trên thị trường chứng khoán Việt Nam nói riêng cũng như trong công bố thông tin về kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung.
35 Mức độ phổ biến của rào cản phi thuế ở khu vực ASEAN hiện nay / Lê Thị Việt Nga // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2018 .- Số 123 .- Tr. 2 - 12 .- 658
Mức độ phổ biến của rào cản phi thuế có thể được xác định bằng phương pháp kiểm đếm hoặc phương pháp điều tra doanh nghiệp nhằm phản ánh mức độ bao phủ hay mức ảnh hưởng của các rào cản phi thuế tới hoạt động kinh doanh, đặc biệt hoạt động nhập khẩu, của các doanh nghiệp. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), chỉ số mức độ phổ biến của rào cản phi thuế là một trong những chỉ tiêu được sử dụng để xác định chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu của một quốc gia và được tính toán theo phương pháp điều tra doanh nghiệp. Bởi vậy, nghiên cứu về chỉ số mức độ phổ biến của các rào cản phi thuế và cải thiện chỉ số mức độ phổ biến của rào cản phi thuế là việc làm cần thiết đối với bất kỳ quốc gia nào trong bối cảnh cải thiện môi trường kinh doanh, cải thiện năng lực cạnh tranh toàn cầu nhằm thu hút đầu tư và phát triển kinh tế xã hội. Bằng phương pháp thống kê, mô tả, phân tích, bài viết nghiên cứu về các chỉ số mức độ phổ biến của rào cản phi thuế của các nước ASEAN, các hành động của ASEAN trong việc cải thiện chỉ số mức độ phổ biến của rào cản phi thuế, từ đó rút ra những hàm ý chính sách đối với Việt Nam.
36 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với kinh tế tri trức / Phạm Đình Long // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2018 .- Số 123 .- Tr. 63 - 72 .- 658
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là kênh chuyển giao công nghệ quan trọng góp phần phát triển kinh tế tri thức. Nghiên cứu này tìm hiểu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến kinh tế tri thức theo hai chiều hướng: chiều hướng tiếp nhận đầu tư trực tiếp từ nước ngoài và hướng ngược lại là thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập trong các năm 2007-2009 từ 34 quốc gia được công bố chỉ số Kinh tế tri thức và các số liệu liên quan khác từ UNCTAD và Ngân hàng Thế giới. Phân tích hồi quy dữ liệu bảng cho thấy đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tác động ngược chiều đến Kinh tế tri thức, ngược lại đầu tư trực tiếp ra nước ngoài có tác động cùng chiều đến Kinh tế tri thức.
37 Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế để hội nhập cách mạng công nghiệp 4.0 / Lê Quốc Anh,Trần Hoài Thanh // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2019 .- Số 126 .- Tr. 26 - 35 .- 658
Cách mạng công nghiệp (CMCN) 4.0 đang làm thay đổi cơ bản cách thứckinh doanh,khiến nhiều ngành bị tổn hại, nhưng cũng làm cho nhiều ngành được hưởng lợi, làm khuynh đảo cơ cấu ngành nhiều nước. Ở nước ta, tuy công cuộc Đổi mới đã tạo ra nhiều chuyển dịch tích cực, song cơ cấu ngành còn nhiều hạn chế, mức chuyển dịch chưa như kỳ vọng, bởi hệ thống chính trị đổi mới chậm, chất lượng thể chế, quản trị, cùng nhân sự chưa cao. Trong lúc, nhu cầu phát triển, hoàn tất các quá trình kinh tế dở dang, vực dậy nền kinh tế tụt hậu, nâng cao năng lực cạnh tranh đang gấp gáp. Do đó, cầnxác định lại tổng quan kinh tế, vạch ra các ngành cần phát triển, tăng tốc hoàn thiện thể chế, nângdu lịch thành trụ cột tăng trưởng. Chuyển dịch các ngành bị tổn hại, phát triển các ngành yếu, nhất là nông nghiệp, thâm nhập chuỗi giá trị, đổi mới cơ cấu lãnh thổ và quản trị quốc gia, thu hút và phát huy sức mạnh cộng đồng, biến CMCM 4.0 thành nhân tố phát triển.
38 Phát triển xuất nhập khẩu của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế / Phạm Thị Bạch Tuyết // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2019 .- Số 126 .- Tr. 26 - 35 .- 658
Sau hơn ba mươi năm thực hiện đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế, thương mại Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hội nhập kinh tế quốc tế đã góp phần làm cho thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam không ngừng được mở rộng, giá trị thương mại tăng trưởng mạnh mẽ, cơ cấu và chất lượng hàng hóa được cải thiện theo hướng tích cực. Tuy nhiên, khi Việt Nam hội nhập sâu rộng vào thị trường thế giới cũng đã bộc lộ những khó khăn, hạn chế đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới.
39 Chính sách thúc đẩy tiêu dùng các sản phẩm thân thiện môi trường / Đinh Văn Sơn, Nguyễn Hoàng Việt // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2019 .- Số 125 .- Tr. 2 - 10 .- 658
Nghiên cứu này có mục đích tổng hợp các quan điểm về tiêu dùng bền vững và chính sách khuyến thích tiêu dùng bền vững các sản phẩm thân thiện môi trường trên thế giới và ở Việt Nam hiện nay; từ đó đề xuất một sốkiến nghị nhằm thúc đẩy tiêu dùng bền vững ở Việt Nam.
40 Phân tích các nhân tố tác động đến nền kinh tế ngầm cấp tỉnh tại Việt Nam : tiếp cận mô hình MIMIC / Lương Văn Đạt // Khoa học Thương mại .- 2025 .- Số 202 .- Tr. 40 - 54 .- 330
Kinh tế ngầm là một phần vốn có của các hệ thống kinh tế và xã hội hiện đại. Mô hình MIMIC đã trở nên phổ biến như một phương pháp để ước tính quy mô các hoạt động kinh tế chưa quan sát được. Để hiểu đầy đủ về nền kinh tế ngầm, điều quan trọng là không chỉ đo lường quy mô hiện tại mà còn xác định các yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng của nó. Ở Việt Nam, đa số các nghiên cứu dành nhiều thời lượng vào việc xem xét nền kinh tế ngầm ở cấp độ quốc gia. Bài viết này là nghiên cứu đầu tiên đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến nền kinh tế ngầm ở cấp tỉnh tại Việt Nam. Bằng việc thu thập dữ liệu từ Niên giám thống kê Việt Nam, cũng như các chỉ số PCI và PAPI từ năm 2015 đến năm 2022, nghiên cứu nhận thấy rằng gánh nặng thuế và độ mở kinh tế ảnh hưởng tích cực đến khu vực kinh tế ngầm. Mặt khác, số người lao động chưa có việc làm, thu nhập trên đầu người và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) có mối tương quan ngược chiều với quy mô của khu vực kinh tế phi chính thức.





