CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
101 Tăng trưởng tín dụng những tháng đầu năm 2025 - Một số khuyến nghị đối với Việt Nam / Vũ Mai Chi, Đào Minh Thắng, Trần Việt Thanh // Ngân hàng .- 2025 .- Số 9 .- Tr. 1-8 .- 332

Bài viết phân tích thực trạng tăng trưởng tín dụng những tháng đầu năm 2025 tại Việt Nam, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu diễn biến phức tạp và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Kết quả cho thấy tín dụng đã có sự phục hồi tích cực, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp và logistics. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số khó khăn như tăng trưởng chưa đồng đều và rủi ro nợ xấu gia tăng. Trên cơ sở bám sát các chỉ đạo của Chính phủ và Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 20/01/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2025, nhóm tác giả đề xuất các khuyến nghị nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, định hướng tín dụng vào lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát rủi ro và đẩy mạnh chuyển đổi số, từ đó nâng cao hiệu quả điều hành tín dụng gắn với tăng trưởng kinh tế bền vững.

102 Tác động của việc thực hiện ESG và đặc tính quản lý cấp cao đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam / Lâm Thị Hồng Hoa, Lê Hữu Nghĩa, Trịnh Minh Đức // Ngân hàng .- 2025 .- Số 8 .- Tr. 40-49 .- 332.6

Tìm hiểu tác động của việc thực hiện ESG cũng như đặc tính của quản lý cấp cao đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết tại Việt Nam trong giai đoạn 2019 - 2023 thông qua phương pháp hồi quy xác suất Bayes. Kết quả cho thấy, việc thực hiện ESG có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của công ty. Đồng thời, kết quả cũng cho thấy một số đặc tính quản lý cấp cao như tỉ lệ thành viên độc lập, quy mô, nhiệm kỳ và tỉ lệ phụ nữ của hội đồng quản trị cũng có tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả gợi ý một số hàm ý chính sách có liên quan để các công ty niêm yết tại Việt Nam có cơ sở và chiến lược triển khai ESG cũng như xây dựng mô hình quản lý cấp cao phù hợp với xu thế kinh doanh, phát triển bền vững, hiệu quả.

103 Đánh giá tác động từ mức thuế đối ứng của Mỹ lên các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam / Trương Hoàng Diệp Hương, Phạm Mạnh Hùng // Ngân hàng .- 2025 .- Số 8 .- Tr. 1-7 .- 336.2

Nghiên cứu này đánh giá tác động của mức thuế đối ứng mà Mỹ dự kiến áp dụng cho hàng hóa từ Việt Nam lên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam, tập trung vào sáu ngành xuất khẩu chủ lực: Điện tử, dệt may, giày dép, gỗ, thủy sản và thép. Dù Mỹ đã đưa ra thông báo tạm hoãn triển khai mức thuế này và đang cân nhắc giảm thuế suất cho một số lĩnh vực; tuy nhiên, các chính sách do Mỹ đưa ra vẫn chưa chắc chắn trong tương lai gần. Nếu mức thuế 46% vẫn được giữ nguyên, thiệt hại kinh tế Việt Nam sẽ đáng kể. Dựa trên lý thuyết kinh tế thương mại quốc tế, nghiên cứu sử dụng khái niệm độ co giãn giá của cầu và tỉ lệ giá trị gia tăng nội địa để định lượng thiệt hại kinh tế. Kết quả cho thấy, ngành điện tử chịu ảnh hưởng lớn nhất với mức giảm GDP 1,879%, tiếp theo là dệt may (0,781%), trong khi thủy sản và thép ít bị ảnh hưởng hơn, lần lượt 0,112% và 0,118%. Tổng thể, nghiên cứu nhấn mạnh sự phụ thuộc của Việt Nam vào thị trường Mỹ và nguy cơ từ các chính sách bảo hộ, đồng thời gợi ý các giải pháp như đa dạng hóa thị trường và nâng cao giá trị gia tăng nội địa để giảm thiểu rủi ro.

104 Mối quan hệ giữa quản trị nguồn nhân lực xanh và hành vi bảo vệ môi trường của nhân viên tại các khách sạn ở Hà Nội / Nguyễn Linh Phương // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2025 .- Số 290 .- Tr. 87-89 .- 658.3

Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa quản trị nguồn nhân lực xanh (QTNNLX) và hành vi bảo vệ môi trường của nhân viên tại 20 khách sạn 4-5 sao ở Hà Nội, với dữ liệu từ 146 nhân viên. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy QTNNLX có tác động tích cực và ý nghĩa thống kê đến hành vi bảo vệ môi trường. Ngoài ra, QTNNLX còn góp phần nâng cao hiệu quả môi trường của khách sạn thông qua việc tiết kiệm năng lượng, giảm chất thải và chi phí vận hành, đồng thời cải thiện hình ảnh thương hiệu. Nghiên cứu đóng góp vào cơ sở lý thuyết và thực tiễn, đồng thời khuyến nghị các khách sạn nên xem QTNNLX như một công cụ quản lý môi trường hiệu quả.

105 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu suất làm việc của nhân viên tại một số ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố Hà Nội / Đặng Thị Hoài, Nguyễn Ngọc Dương // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2025 .- Số 290 .- Tr. 70-73 .- 332.12

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm khám phá và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến hiệu suất làm việc (HSLV) của nhân viên tại một số ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) trên địa bàn thành phố Hà Nội. Qua khảo sát 400 nhân viên ở các vị trí việc làm khác nhau, kết quả chỉ ra rằng 8 yếu tố trong mô hình đều có ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất làm việc. Đáng chú ý, hệ thống quản lý và đánh giá có tác động tích cực nhất, trong khi các yếu tố liên quan đến môi trường xã hội và đặc điểm của công việc lại có tác động tương đối thấp. Kết quả của nghiên cứu góp phần kiểm chứng về lý luận và thực tiễn, qua đó, có thể là căn cứ đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu suất lao động tại các NHTMCP ở Hà Nội nói riêng và các ngân hàng trên cả nước nói chung.

106 Chuyển đổi số, khả năng vượt các rào cản xuất khẩu và tác động đến kết quả xuất khẩu của doanh nghiệp / Phan Thu Trang // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2025 .- Số 198 .- Tr. 3-14 .- 330

Bài báo nghiên cứu tác động của chuyển đổi số và khả năng vượt rào cản xuất khẩu đến kết quả xuất khẩu của 339 doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy cả hai yếu tố này đều có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến kết quả xuất khẩu. Cụ thể, chuyển đổi số giúp tối ưu hóa quy trình, tăng cường khả năng tiếp cận thị trường và nâng cao năng lực ứng phó với các rào cản thương mại. Trong khi đó, khả năng vượt rào cản xuất khẩu cho phép doanh nghiệp linh hoạt đối phó với các yêu cầu khắt khe từ thị trường quốc tế. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu tìm ra vai trò điều tiết của chuyển đổi số đối với tác động của khả năng vượt rào cản, tăng cường mạnh mẽ hơn kết quả xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp chiến lược chuyển đổi số và tăng cường khả năng vượt rào cản xuất khẩu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam.

107 Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định áp dụng kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp tại Hà Nội / Vũ Văn Hùng // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2025 .- Số 198 .- Tr. 15-37 .- 658

Bài nghiên cứu này được tác giả thực hiện nhằm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới ý định áp dụng kinh tế tuần hoàn vào nông nghiệp của nông dân khu vực Hà Nội, để từ đó có thể đề xuất một số biện pháp thúc đẩy việc áp dụng kinh tế tuần hoàn vào nông nghiệp của người nông dân tại đây. Nghiên cứu đề xuất mô hình lý thuyết kết hợp sử dụng lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và lý thuyết hành vi dự định (TPB). Qua phân tích 154 mẫu khảo sát, phần mềm STATA được sử dụng để phân tích dữ liệu phản hồi hợp lệ. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng ý định áp dụng nông nghiệp tuần hoàn của nông dân Hà Nội bị ảnh hưởng trực tiếp từ nhận thức kinh tế tuần hoàn và thái độ đối với nông nghiệp tuần hoàn của họ. Ngoài ra, các yếu tố sự quan tâm phúc lợi xã hội và nhận thức lợi ích kinh tế có tác động gián tiếp lên ý định áp dụng nông nghiệp tuần hoàn qua biến trung gian là thái độ đối với kinh tế tuần hoàn trong nông nghiệp.

108 Thương hiệu nhà tuyển dụng và hoạt động thu hút nhân sự tài năng: Góc nhìn từ thực tiễn doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam / Đỗ Vũ Phương Anh, Bùi Quang Tuyến, Trần Đình Huy // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2025 .- Số 198 .- Tr. 34-58 .- 658

Bài viết này trình bày kết quả nghiên cứu về thương hiệu nhà tuyển dụng và hoạt động thu hút nhân sự tài năng trong khối doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam. Khung phân tích của nghiên cứu này gồm 6 yếu tố cấu thành thương hiệu nhà tuyển dụng với 30 tiêu chí đánh giá được tổng hợp từ các nghiên cứu trước đây về thương hiệu nhà tuyển dụng ở các nền kinh tế phát triển. Bài viết lựa chọn Tập đoàn Vàng bạc Đá quý DOJI là trường hợp nghiên cứu điển hình. Số liệu đánh giá thương hiệu nhà tuyển dụng DOJI được thu thập từ 485 cán bộ nhân viên đang làm việc tại Tập đoàn DOJI và những công ty là đối tác kinh doanh hoặc nhà cung cấp của Tập đoàn. Kết quả đánh giá thương hiệu nhà tuyển dụng DOJI cho thấy “danh tiếng công ty” là yếu tố được đánh giá cao nhất, tiếp theo đó là “văn hóa doanh nghiệp” và “phong cách lãnh đạo”. Kết quả nghiên cứu này gợi mở một số khuyến nghị cho các doanh nghiệp tư nhân tại Việt Nam tham khảo bài học từ Tập đoàn DOJI trong việc phát triển thương hiệu nhà tuyển dụng và sử dụng nó như một công cụ thu hút nhân sự tài năng trong tương lai.

109 Khám phá mối quan hệ giữa mua sắm ngẫu hứng, cảm nhận hạnh phúc, niềm tin và ý định mua lại của người tiêu dùng trong thương mại trên nền tảng xã hội: trường hợp người tiêu dùng gen Z tại Việt Nam / Đặng Thị Thu Trang, Trần Hoàng Bảo Lâm // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2025 .- Số 198 .- Tr. 98-116 .- 658

Nghiên cứu này nhằm mục đích khám phá mối quan hệ giữa mua sắm ngẫu hứng và ý định mua lại trong thương mại trên nền tảng xã hội thông qua tác động trung gian của niềm tin trực tuyến và cảm nhận hạnh phúc của người tiêu dùng. Sau khi phân tích dữ liệu từ 431 người tiêu dùng gen Z tại Việt Nam, độ tuổi từ 18 đến 25, bằng PLS-SEM, kết quả cho thấy hành vi mua hàng ngẫu hứng tác động gián tiếp và tích cực đến ý định mua lại thông qua niềm tin trực tuyến, cảm nhận hạnh phúc (gồm hai khía cạnh: hạnh phúc ngắn hạn và sự hài lòng với cuộc sống) của người tiêu dùng. Những kết quả này có thể hỗ trợ các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp bán lẻ trên các nền tảng mạng xã hội nói riêng hiểu rõ hơn hậu quả của hành vi mua sắm ngẫu hứng của người tiêu dùng gen Z, cũng như có chiến lược thúc đẩy ý định mua lại của họ trong thương mại trên nền tảng xã hội.

110 Nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc sử dụng công nghệ AI của các doanh nghiệp thương mại điện tử Việt Nam / Đinh Văn Sơn, Nguyễn Trần Hưng // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2025 .- Số 199 .- Tr. 3-23 .- 658

Nghiên cứu này đã xác định, tổ chức (O) là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất tới Nhận thức sự hữu ích (PU) và công nghệ (T) là yếu tố tác động ở mức trung bình tới Nhận thức tính dễ sử dụng (PEU), trong khi đó yếu tố môi trường (E) chỉ có tác động nhỏ tới cả PU và PEU. Đồng thời Nhận thức tính dễ sử dụng (PEU) có tác động mạnh hơn tới Ý định hành vi sử dụng công nghệ AI của các doanh nghiệp Việt Nam so với Nhận thức sự hữu ích (PU). Ngoài ra, những hiểu biết sâu sắc từ kết quả của nghiên cứu này có thể cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách, giúp họ tạo ra các khuôn khổ pháp lý thuận lợi khuyến khích đổi mới và sử dụng công nghệ AI đồng thời giúp doanh nghiệp TMĐT Việt Nam có thể ứng dụng tốt hơn công nghệ AI trong các hoạt động TMĐT.