CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Kinh tế - Tài chính

  • Duyệt theo:
441 Tác động của cơ cấu sở hữu đến tránh thuế : bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam / Ngô Nhật Phương Diễm // .- 2024 .- Số 824 - Tháng 5 .- Tr. 61-64 .- 657

Nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (FGLS) để đánh giá tác động của đặc điểm sở hữu đến tránh thuế tại Việt Nam thông qua sử dụng dữ liệu của 291 công ty niêm yết trong giai đoạn 2016 đến 2022. Kết quả hồi quy thừa nhận sở hữu nước ngoài có mối tương quan ngược chiều giữa tránh thuế với mức ý nghĩa 5% nhưng nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng về tác động của sở hữu quản lý, sở hữu nhà nước đến tránh thuế. Ngoài ra nghiên cứu cũng đề xuất hàm ý nhằm nâng cao quản trị công ty, nâng cao nhận thức tuân thủ quy định về nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.

442 Nghiên cứu xu hướng thị trường chứng khoán Việt Nam bằng phương pháp hồi quy đa thức / Đỗ Quang Khang, Nguyễn Trọng Du // .- 2024 .- Số 824 - Tháng 5 .- Tr. 68-72. .- 332

Bài báo này, tập trung nghiên cứu, phân tích thị trường chứng khoán Việt Nam, khám phá sự biến động của Chỉ số VN-Index trong 20 năm qua bằng phương pháp hồi quy đa thức, để dự đoán sự đảo ngược xu hướng thị trường, từ đó cung cấp công cụ hữu ích cho nhà đầu tư và quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam. Đồng thời, nhóm tác giả đề xuất cách tiếp cận và sử dụng công cụ phân tích – dự đoán một cách hiệu quả để hỗ trợ việc ra quyết định trong quá trình đầu tư chứng khoán và hoạch định chính sách kinh tế, góp phần vào sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế thế giới có nhiều biến động.

443 Ảnh hưởng từ cổ phiếu xanh đến phát triển kinh tế của các tỉnh, thành phố ở Việt Nam / Nguyễn Linh Chi, Lê Phương Uyên, Trần Khánh Hòa, Trần Khánh Huyền, Đoàn Thị Minh Thủy, Kim Hương Trang // .- 2024 .- Số 824 - Tháng 5 .- Tr. 73-75 .- 330

Nghiên cứu này xem xét sự tác động của cổ phiếu xanh đến tăng trưởng kinh tế trước và sau đại dịch COVID-19. Dữ liệu được sử dụng bao gồm giá trị cổ phiếu xanh của 239 công ty và thông tin về tăng trưởng kinh tế của 44 tỉnh, thành ở Việt Nam trong giai đoạn trước và sau đại dịch COVID-19. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng phương pháp ước lượng bình phương tổng quát để đề xuất một mô hình về tác động của cổ phiếu xanh đến phát triển kinh tế của các tỉnh, thành. Mô hình cho thấy việc phát hành cổ phiếu xanh có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế của mỗi tỉnh, thành thông qua GDP danh nghĩa, đặc biệt là sau giai đoạn COVID-19, vai trò của cổ phiếu xanh trong thúc đẩy phát triển kinh tế cũng ngày càng được củng cố.

444 Tác động từ FDI, chất lượng thể chế và lao động đến kim ngạch xuất khẩu của các tỉnh, thành phố Việt Nam / Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Duy Đạt // .- 2024 .- Số 824 - Tháng 5 .- Tr. 76-79 .- 332

Bài viết nghiên cứu tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), chất lượng thể chế và chất lượng lao động đến hiệu quả xuất khẩu của các tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp của 63 tỉnh, thành phố trong giai đoạn 2017-2022. Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng lao động, chất lượng thể chế và FDI đều có tác động tích cực tới kim ngạch xuất khẩu các tỉnh thành Việt Nam. Theo đó, bài viết đề xuất các chính sách để thúc đẩy xuất khẩu ở Việt Nam.

445 Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thông minh ở Việt Nam / Trần Viết Sung, Trịnh Đắc Viên // .- 2024 .- Số 824 - Tháng 5 .- Tr. 80-82 .- 330

Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thông minh là xu hướng tất yếu làm thay đổi bức tranh nền nông nghiệp Việt Nam. Thời gian qua, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thông minh đã đạt được những kết quả nhất định, song vẫn còn tồn tại những hạn chế, khó khăn. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại Việt Nam, bài viết đề xuất các giải pháp phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thông minh thời gian tới.

446 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức ngành tài chính / Lê Văn Nam // .- 2024 .- Số 824 - Tháng 5 .- Tr. 93-96 .- 332

Trong những năm qua, Bộ Tài chính đã luôn quan tâm đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, viên chức và đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức vẫn còn nhiều hạn chế. Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức; đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức, viên chức, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng công tác này trong ngành Tài chính.

447 Hoàn thiện chất lượng báo cáo tài chính trong bối cảnh kinh tế số / Nguyễn Thị Hồng // .- 2024 .- Số 824 - Tháng 5 .- Tr. 98-100 .- 332

Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp và nền kinh tế. Doanh nghiệp cần phát triển theo hướng gia tăng áp dụng công nghệ tài chính nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính và giảm thiểu rủi ro, sai sót trong quản trị. Việc nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp cũng cần gắn với thúc đẩy phát triển bền vững về môi trường, xã hội và quản trị (ESG), gia tăng trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp với cộng đồng.

448 Kinh tế xanh - cơ hội phát triển công nghệ cao / Nguyễn Thường Lạng // .- 2024 .- Số (279+280) - Tháng (5+6) .- Tr. 9-12 .- 330

Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh dựa trên mô hình tuần hoàn kinh tế cơ bản để nhận dạng mô hình kinh tế xanh với nguồn thông tin thu thập từ các tổ chức quốc tế và nghiên cứu chuyên sâu.

449 Huy động nguồn lực tài chính phát triển các vùng kinh tế trọng điểm ở Việt Nam / Lê Thị Thùy Vân // .- 2024 .- K2 - Số 262 - Tháng 4 .- Tr. 5-9 .- 332

Bài viết sẽ tập trung phân tích thực trạng huy động nguồn lực tài chính phát triển các vùng KTTĐ, đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại, từ đó đưa ra một số giải pháp huy động nguồn lực tài chính phát triển các vùng KTTĐ trong thời gian tới.

450 Thực trạng thâm hụt ngân sách nhà nước của Việt Nam giai đoạn 2011-2022 / Nguyễn Thị Hoa, Phạm Thị Hoàng Phương // .- 2024 .- K2 - Số 262 - Tháng 4 .- Tr 12-16 .- 332.1

Thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) (hay còn gọi là bội chi NSNN) của Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo thời gian và tương ứng với từng giai đoạn hiệu lực của Luật NSNN. Theo quy định của Luật NSNN mới năm 2015 và Nghị định 163/NĐ-CP năm 2016 (có hiệu lực từ năm 2017), bội chi NSNN bao gồm bội chi ngân sách trung ương (NSTW) và bội chi ngân sách địa phương (NSĐP) cấp tỉnh. Như vậy hiện nay địa phương cũng được phép bội chi và bội chi NSĐP được tổng hợp chung vào bội chi NSNN. Tuy nhiên chi cân đối NSNN không bao gồm chi trả nợ gốc mà chỉ bao gồm số trả nợ lãi, phí. Đồng thời, thu cân đối NSNN không bao gồm các khoản thu từ cho vay. Vì vậy, khi xem xét, nhận định, đánh giá về bội chi NSNN giai đoạn 2011-2022, bài viết chia thành 02 giai đoạn: giai đoạn 2011-2026 (khi áp dụng Luật NSNN năm 2002) và giai đoạn 2017-2022 (khi áp dụng Luật NSNN năm 2015).