CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Luật

  • Duyệt theo:
801 Bàn về dấu hiệu hậu quả trong “tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh / Phạm Xuân Thụy // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 02 (162) .- Tr. 69 – 77 .- 340

Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trong những tội phạm xâm phạm tính mạng của con người. Tội phạm này có những điểm khác biệt nhất định về dấu hiệu pháp lý so với Tội giết người. Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu làm rõ dấu hiệu pháp lý của tội phạm này. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu lại thể hiện quan điểm khác nhau về dấu hiệu hậu quả của tội phạm. Trong bài viết này, tác giả sẽ chỉ rõ sự khác biệt trong quan điểm khác nhau về dấu hiệu hậu quả của Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra quan điểm cá nhân vấn đề này nhằm góp phần hoàn thiện lý luận về dấu hiệu pháp lý của Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

802 Chế định đặc quyền của bên bào chữa trong tố tụng hình sự / Nguyễn Thái Phúc // Khoa học pháp lý .- 2023 .- Số 02 (162) .- Tr. 54 – 68 .- 340

Đặc quyền tồn tại trong các ngành luật và được nhìn nhận như là những quy phạm đặc thù so với các quy phạm chung. Trong tố tụng hình sự (TTHS) đặc quyền hay lợi thế của bên bào chùa so với bên buộc tội trong một số trường hợp cụ thể nhằm tăng cường bảo đảm hơn nữa quyền của bên bào chữa - bễn luôn được xem là bên yếu thế trong quan hệ tố tụng hình sự - được thể hiện bằng thuật ngũ “favor defensionis”. Tư tưởng về favor defensionis có cội nguồn từ một số quy định của luật La Mã cổ, dần phát triển thành chế định ngày càng có tỉnh phổ quát trong pháp luật TTHS của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, lý luận TTHS ở nước ta chưa tiếp cận nhiều với chế định này. Bài viết trình bày về nguồn gốc, cơ sở lý luận của chế định favor defensionis, một số khác biệt về thể hiện của chế định này trong các hệ thống pháp luật khác nhau. Những vấn đề lý luận có tính tranh luận như tính độc lập, mối quan hệ của chế định với nhiều nguyên tắc cơ bản hoặc chế định khác của TTHS, nội hàm của chế định cũng được đề cập. Bài viết đưa ra nhận xét của tác giả về sự hiện diện của chế định favor defensionis trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (BLTTHS năm 2015), phân tích những hạn chế trong các quy định của Bộ luật về chế định này và kiến nghị mở rộng nghiên cứu lý luận về chế định là định hướng cần được khuyến khích ở nước ta.

803 Chuyển đổi số trong giáo dục đại học: lợi ích và thách thức / Vũ Thị Thanh Tâm // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 633 .- Tr. 10 – 12 .- 340

Tận dụng tiến bộ công nghệ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong dạy và học, nâng cao chất lượng và cơ tiếp cận giáo dục, hiệu quả quản lý giáo dục; xây dựng nền giáo dục mở thích ứng trên nền tảng số, góp phần phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Trong quá trình chuyển đổi số, nhiều trường đại học đang phải đối diện với nhiều thách thức về chiến lược, về chi phí, về nguồn lực công nghệ, về nguồn nhân triển khai, trong thay đổi phương pháp sư phạm và chương trình giảng dạy, và các vấn đề bảo mật dữ liệu và pháp lý liên quan.

804 Quảng cáo xanh trên mạng xã hội và các vấn đề nghiên cứu có liên quan / Đoàn Kim Thuê // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2023 .- Số 633 .- Tr. 13 – 15 .- 340

Một xu hướng nối lên trong những năm gần đây là sự gia tăng nhanh chóng việc sử dụng mạng xã hội và Internet của cả người tiêu dùng và các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thấy được sự cần thiết phải có sự hiện diện trong truyền thông trực tuyến và mạng xã hội do việc sử dụng rộng rãi và tầm quan trọng của cả hai phương tiện truyền thông này. Tác giả tập trung làm rõ các vấn đề đã được nghiên cứu và đề xuất hướng hoàn thiện trong tương lai.

805 Phân cấp quản lý ngân sách giữa chính quyền Trung ương và thành phố Hà Nội / Phạm Thanh Hà // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2022 .- Số 12 (233) .- Tr. 5 – 8 .- 658

Hà Nội là đô thị loại đặc biệt, có quy mô dân số đứng thứ hai trong cả nước. Tuy nhiên, phân cấp quản lý ngân sách ở thành phố Hà Nội giai đoạn 2017-2021 chưa phù hợp với điều kiện áp dụng mô hình chính quyền đô thị. Bài báo này phân tích và đánh giá một cách khoa học về thực trạng phân cấp thu và chi ngân sách giữa chính quyền trung ương và thành phố Hà Nội giai đoạn 2017-2021; đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện phân cấp quản lý ngân sách giữa chính quyền trung ương và thành phố Hà Nội.

806 Giải pháp thu hút FDI xanh ở Việt Nam giai đoạn 2022-2030 / Ngô Thị Minh // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2023 .- Số 12 (233) .- Tr. 9 – 12 .- 657

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là nguồn vốn quan trọng, không chỉ là động lực thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, phát triển và hội nhập quốc tế mà còn góp phần bổ sung vốn, năng lực công nghệ, kỹ năng quản lý, năng lực kinh doanh hiệu quả và tạo việc làm cho người lao động. Nguồn vốn FDI tác động tích cực đến phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ, tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển bền vững. Vì vậy, cần tìm ra giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút nguồn vốn FDI xanh ở Việt Nam trong giai đoạn tới.

807 Huy động nguồn lực tài chính từ vốn đầu tư công cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế / Nguyễn Thị Tuyết, Phùng Thu Hà, Đỗ Gia Phong // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2023 .- Số 12 (233) .- Tr. 13 – 16 .- 657

Nhiều nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm đã chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam những năm qua chủ yếu nhờ vào việc huy động thành công các nguồn lực tài chính trong đó nguồn lực tài chính từ vốn đầu tư công chiếm vai trò chủ đạo. Bài viết thực trạng huy động nguồn lực tài chính từ vốn đầu tư công cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010-2021, từ đó đề xuất một số khuyến nghị đẩy mạnh đầu tư công hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

808 Nâng cao chất lượng quản lý tài chính đối với các đoàn kinh tế - quốc phòng / Nguyễn Thị Tuyết Nhung // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2022 .- Số 12 (233) .- Tr. 17 – 20 .- 658

Xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng (KTQP) là chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước trong thực hiện kết hợp kinh tế với quốc phòng trên các địa bàn chiến lược, trong đó đoàn KTQP là lực lượng nòng cốt trong tổ chức thực hiện. Công tác quản lý tài chính ở các Đoàn KTQP nhìn chung đã đi vào ổn định, thực hiện có nền nếp, đã đạt được nhiều kết quả tích cực; cơ bản thực hiện đúng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước, các văn bản pháp quy có liên quan của Chính phủ và Bộ Quốc phòng, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của quân đội. Tuy nhiên, trong quá trình quản lý tài chính ở các Đoàn KTQP cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng quản lý tài chính cần sớm khắc phục và tháo gỡ.

809 Cơ cấu lại kinh tế du lịch ở Việt Nam / Lê Hữu Phương, Vũ Đình Thuận // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2023 .- Tr. 17 – 20 .- 657

Xác định vị trí, vai trò và tầm quan trọng của du lịch đối với sự phát triển mọi mặt của kinh tế - xã hội (KT-XH) ở nước ta, ngày 05 tháng 12 năm 2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1685/ QĐ-TTg phê duyệt đề án “Cơ cấu lại ngành du lịch Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn” với những nội dung đặc biệt quan trọng. Trong đó, đề án đã đưa ra và xây dựng kế hoạch nhằm cụ thể hóa các nội dung quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của bộ, ban ngành và các địa phương trong việc thực hiện. Bước đầu đã thu được nhiều thành công với những kết quả khởi sắc, nổi bật. Tuy nhiên, trước những diễn biến phức tạp thời gian qua của đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng lớn đến kinh tế du lịch (KTDL), đòi hỏi các chủ thể trong tỉnh phải tiến hành thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp nhằm cơ cấu lại ngành du lịch hiệu quả và thành công hơn. Bài viết đề cập những vấn đề mang tính lý luận, đồng thời đánh giá thực trạng về cơ cấu lại KTDL ở Việt Nam, từ đó tiếp tục đề xuất khuyến nghị những giải pháp quan trọng nhằm hướng đến mục tiêu phát triển du lịch nước ta trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong thời gian tới.

810 Sinh kế bền vững cho người dân ven biển tỉnh Nghệ An / Đỗ Thị Phi Hoài, Nguyễn Thị Phương Thúy // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2022 .- Số 12 (233) .- Tr. 25 – 29 .- 657

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận khung sinh kế bền vững do Bộ Phát triển Quốc tế Anh xây dụng (Department for International Development - DFID) để đánh giá thực trạng sinh kế bền vững cho người dân ven biển tỉnh Nghệ An. Thông qua phương pháp nghiên cứu thống kê mô tả và so sánh từ dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, tác giả đã cho thấy được bức tranh về sinh kế của người dân trong vùng cũng như thấy được những khó khăn mà người dân đang vẫn còn gặp phải, vướng mắc cần được giải quyết. Từ đó tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm hỗ trợ cho người dân vùng ven biển Nghệ An có được sinh kế ổn định bền vững cũng như giúp thúc đẩy nền kinh tế - xã hội của toàn tỉnh Nghệ An nói chung và của cả nước nói riêng.