Trên cơ sở tiếp thu những kinh nghiệm từ các ngân hàng lớn trên thế giới tại Mỹ, Anh, Singapore, bài viết sẽ rút ra một số gợi ý áp dụng cho các ngân hàng thương mại Việt Nam trong lộ trình ứng dụng MPA.
Xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin (CLTT) trên báo cáo tài chính (BCTC) của các đơn vị sự nghiệp y tế (ĐVSNYT) trên địa bàn TP.HCM. Để thực hiện nghiên cứu, nhóm tác giả đã sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm xác định mô hình nghiên cứu và kiểm định mô hình. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định có năm nhân tố đều có tác động cùng chiều đến CLTT trên BCTC của các đơn vị đó là Hệ thống thông tin kế toán; Cơ chế tài chính áp dụng tại đơn vị; Chất lượng dữ liệu; Cam kết của nhà quản lý; Trình độ nhân viên kế toán.
Bài viết góp phần làm rõ ý nghĩa, quy trình và thực tiễn của chuyển đổi số kế toán quản trị trong các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay. Từ đó, đưa ra một số khuyến nghị nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp chuyển đổi số nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Nghiên cứu về tính thích hợp thông tin được thực hiện trên cơ sở định hướng lý thuyết thông tin hữu ích và thông tin bất cân xứng. Tổng quan các nghiên cứu về nhân tố tác động đến tính thích hợp được thực hiện thu được kết quả khá đa dạng, từ đó cho thấy nhiều hướng nghiên cứu khác nhau khi nghiên cứu về tính thích hợp thông tin kế toán.
Bài viết tập trung phân tích tình hình tài chính của 13 doanh nghiệp Dệt may trong giai đoạn từ năm 2019-2021 đồng thời trên cơ sở đó định hướng một số giải pháp chiến lược kinh doanh cho các doanh nghiệp Dệt may trong tương lai gần.
Kết quả phân tích PLS cho thấy sự hài lòng của nhân viên kế toán có tác động tích cực đến hiệu quả công việc, môi trường làm việc cũng tác động đến hiệu quả công việc và áp lực công việc là nhân tố ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả công việc của nhân viên kế toán khi họ làm việc tại nhà. Các kết quả nghiên cứu đã gợi ý một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao hiệu quả công việc cho nhân viên kế toán trong mô trường làm việc tại nhà.
Kết quả nghiên cứu đã xác định, có 6 nhân tố tác động cùng chiều đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các đơn vị, cụ thể là: Sự hỗ trợ chính trị; Hệ thống pháp lý về tài chính, kế toán; Đặc điểm quản trị của đơn vị; Đặc điểm tài chính của đơn vị; Văn hóa tổ chức và Hội nhập kinh tế quốc tế.
Kết quả cho thấy rằng tác động bất lợi của số ca COVID-19 gia tăng hàng ngày đến lợi nhuận và thanh khoản cổ phiếu của các công ty. Nghiên cứu cũng phát hiện việc khóa chặt COVID-19 có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến lợi nhuận và thanh khoản cổ phiếu của các công ty. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy lợi nhuận và thanh khoản cổ phiếu có sự khác nhau giữa các công ty có vốn hóa thị trường lớn và nhỏ dưới tác động của COVID-19. Từ kết quả này, nhóm tác giả đã đưa ra một số hàm ý chính sách cho chính phủ và nhà đầu tư.
Gen Z - thế hệ sinh ra từ giữa những năm 1990 đến giữa những năm 2010, đang trở thành phân khúc người tiêu dùng quan trọng trong ngành Ngân hàng. Thế hệ này đã lớn lên trong thời đại kỹ thuật số và yêu cầu tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ tài chính. Do đó, xu hướng ngân hàng liên quan đến Gen Z đang phát triển nhanh chóng. Các ngân hàng đang ngày càng cung cấp nhiều dịch vụ ngân hàng di động, chẳng hạn như ứng dụng di động và ví kỹ thuật số, nhằm đáp ứng nhu cầu về sự thuận tiện và linh hoạt của Gen Z. Để luôn phù hợp và cạnh tranh, các ngân hàng phải thích ứng với những xu hướng này và đưa ra các giải pháp sáng tạo phục vụ cho sở thích của Gen Z.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ ngân hàng số của khách hàng cá nhân. Dữ liệu được thu từ khảo sát 152 khách hàng cá nhân. Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: Chuẩn chủ quan, thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi, nhận thức dễ sử dụng, nhận thức sự hữu ích, nhận thức rủi ro và hình ảnh ngân hàng có mối quan hệ với việc sử dụng dịch vụ ngân hàng số của khách hàng cá nhân. Có sự khác nhau về các yếu tố tác động đến việc sử dụng dịch vụ ngân hàng số của khách hàng cá nhân. Kết quả cho thấy, khách hàng đã sử dụng dịch vụ ngân hàng số thì sẽ sử dụng ở mức độ thường xuyên trở lên. Các dịch vụ được sử dụng nhiều nhất là quản lý thông tin cá nhân, chuyển khoản, đăng ký gói data 3G/4G...