Phân tích quá trình thực hiện khắt khe chiến lược dự trữ ngoại hối với một số mô hình tổ chức quản lý dự trữ ngoại hối phù hợp với tình hình kinh tế đất nước của Hàn Quốc.
Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong xuất khẩu nông sản của VN qua các cửa khẩu biên gới Việt - Trung, từ đó đề xuất một số giải pháp đối với hoạt động này trong thời gian tới.
Đánh giá thực trạng xuất khẩu mặt hàng gạo của VN sang thị trường Trung Quốc, từ đó kiến nghị giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển ngành lúa gạo sang thị trường này, cũng như xây dựng hướng đi lâu dài, bền vững cho ngành lúa gạo để đạt được thành công mục tiêu tiêu, chiến lược của Đảng, Nhà nước.
Với sự phát triển của mạng xã hội, thay vì nỗ lực duy trì mối quan hệ với từng khách hàng, cộng đồng thương hiệu trực tuyến là giải pháp mới cho doanh nghiệp (DN). Nghiên cứu này mở rộng lí thuyết của chủ đề với giả thuyết vai trò trung gian gắn kết của khách hàng với cộng đồng thương hiệu từ quá trình tham gia vào cộng đồng thương hiệu đến gắn kết và ý định trung thành với thương hiệu. Bên cạnh đó, nghiên cứu lần đầu tiên kiểm định tác động gián tiếp của niềm tin thương hiệu đến gắn kết và ý định trung thành với thương hiệu thông qua gắn kết của khách hàng với cộng đồng thương hiệu. Kết quả nghiên cứu với 640 thành viên cộng đồng thương hiệu các nhãn hiệu thực phẩm chức năng VithairPlus, Younger, FiliformBerry tại VN (thời gian khảo sát từ tháng 3 đến tháng 6/2016) đã khẳng định các giả thuyết đặt ra. Đặc biệt gắn kết với cộng đồng thương hiệu đóng vai trò trung gian toàn phần của 3 trong 4 mối quan hệ trên. Từ đó mở ra những hàm ý cho DN để quản lí hiệu quả phương thức truyền thông này.
Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) có ảnh hưởng tích cực tới việc cải thiện lợi thế cạnh tranh, gia tăng hiệu quả hoạt động cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) (Chin & cộng sự, 2012). Trong nghiên cứu này, thang đo vận hành chuỗi cung ứng được kiểm định trong điều kiện VN. Tác giả tiến hành đo lường vận hành chuỗi cung ứng tại 148 DNVVN tại Đà Nẵng. Kết quả cho thấy DNVVN Đà Nẵng mới chỉ thực hiện một số vận hành SCM mang tính truyền thống như: Quan tâm tới chất lượng của nhà cung cấp, tương tác với khách hàng, đo lường đánh giá sự hài lòng của khách hàng, còn lại việc vận hành những nội dung khác trong SCM còn khá khiêm tốn. Bên cạnh việc chỉ ra những tồn tại trong vận hành SCM của DNVVN Đà Nẵng, tác giả còn đề xuất một số hàm ý chính sách giúp doanh nghiệp cải thiện vận hành SCM, nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh trong thời gian tới.
Sử dụng phương pháp hồi quy hai bước của Fama và MacBeth (1973), nghiên cứu này tiến hành kiểm định nhân tố quản trị thu nhập trong mô hình định giá tài sản tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân tố quản trị thu nhập góp phần giải thích sự biến động lợi suất phụ trội của các danh mục theo thời gian. Tuy nhiên, không tìm thấy bằng chứng cho thấy nhân tố quản trị thu nhập giải thích sự khác biệt về lợi suất phụ trội giữa các danh mục. Do đó, không thể kết luận nhân tố quản trị thu nhập đại diện cho rủi ro bất cân xứng thông tin và là một nhân tố trong mô hình định giá tài sản tại Việt Nam.
Nghiên cứu này thảo luận và kiểm định ảnh hưởng của ưu thế của kênh quảng cáo, chi phí quảng cáo, ngân sách quảng cáo, tri thức của doanh nghiệp, mối liên kết của doanh nghiệp với các nhà truyền thông, năng lực kinh doanh, và cạnh tranh của thị trường quảng cáo đến quyết định lựa chọn quảng cáo trên truyền hình của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại khu vực Đồng bằng sông Mê Kông. Dựa trên mẫu khảo sát từ 300 nhà quản trị đại diện cho 100 doanh nghiệp, kết quả cho thấy rằng hầu hết nhân tố nêu trên đến có ảnh hưởng đến quyết định chọn quảng cáo truyền hình của các doanh nghiệp. Vì vậy, nghiên cứu này đóng góp vào việc giải thích hành vi của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong bối cảnh kinh doanh quảng cáo truyền hình, bối cảnh ít được quan tâm, nhưng đang diễn ra rất sôi động và phát triển rất mạnh tại Việt Nam.
Thương hiệu là tài sản vô hình của cơ sở giáo dục. Giáo dục là sản phẩm vô hình với các đặc trưng riêng, đặt ra những thách thức đặc thù cho hoạt động marketing (Mazzarol, 1998). Theo đó, hai cặp nhân tố thành công quan trọng ảnh hưởng đến thương hiệu của một cơ sở giáo dục là: (i) Hình ảnh và nguồn lực; (ii) Liên kết và sáp nhập.