This work deals with port-Hamiltonian-based modelling of dynamical systems with application to electrical systems whose dynamics are affine in the control input. Two pH models of physical interest are proposed and compared, the first one is established with a series RLC circuit while the second one is obtained with a parallel RLC circuit. As the energy dissipation is due to the resistor, both models are associated with a quadratic Hamiltonian defining the total energy. Importantly, the circuit structure affects the pH formulation. Numerical simulations are carried out to illustrate the developed results.
The study focuses on analyzing the impact of various plasma spraying factors, including plasma current, plasma voltage, and air flow rate, on particle velocity, given their crucial role in determining coating effectiveness. Notably, this research innovatively incorporates ordinary air as the plasma-generating gas and introduces a mathematical model that explains the adjustment of particle velocity.
Hiệu lực của quyền hiến định và tác động của quyền hiến định đối với quan hệ giữa các chủ thể tư là một trong những chủ đề quan trọng ngày càng thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Bài viết này bước đầu nhận diện, phân tích, đánh giá một cách toàn diện và hệ thống các vấn đề pháp lý cơ bản về hiệu lực của quyền hiến định trong luật tư từ cả hai góc độ là hiệu lực theo chiều dọc trong mối quan hệ Nhà nước với công dân và hiệu lực theo chiều ngang trong mối quan hệ giữa các chủ thể tư với nhau. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất nhu cầu và triển vọng nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề hiệu lực của quyền hiến định trong lĩnh vực luật tư ở Việt Nam.
Bài viết phân tích một số bất cập của các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi buôn bán hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, đồng thời đề xuất các kiến nghị hoàn thiện.
Bài viết sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như: thống kê - phân loại; phân tích - tổng hợp; đặc biệt là so sánh. Từ đó, đi đến khẳng định: từ thời trung đại, các tác giả đã quan tâm đến vấn đề sinh thái; đồng thời thấy được điểm gặp gỡ trong thơ chữ Hán của Việt Nam và Hàn Quốc, hai quốc gia cùng nằm trong khu vực Đông Á.
Nghiên cứu Mờ hóa nhân vật trong tiểu thuyết “Mù lòa” của José Saramago và tiểu thuyết “Thành phố bị kết án biến mất” của Trần Trọng Vũ từ góc nhìn văn học so sánh có ý nghĩa quan trọng khi tìm ra điểm tương đồng độc đáo giữa hai nhà văn trong quá trình vận dụng thủ pháp mờ hóa để phác họa, dựng xây nhân vật và phản ánh số phận con người, bối cảnh hậu hiện đại; đồng thời góp phần tăng tính giao lưu văn học giữa hai nước (Việt Nam và Bồ Đào Nha), đưa văn học Việt Nam hòa mình vào dòng chảy văn học thế giới.
Vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học hiện đại để xem xét các yếu tố hình thức, các yếu tố nghĩa cũng như mối quan hệ giữa hình thức và ngữ nghĩa của bài thơ Tiếng Việt nổi tiếng của Lưu Quang Vũ được in trong tập Thơ Việt Nam 1945-1985, nhà xuất bản Giáo dục, 1985 và gần đây in lại trong tập Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2010.
This research delves into the realm of language learning strategies (LLSs) among 116 Vietnamese and Indonesian university students majoring in English and English Language Education. Utilizing Rebecca Oxford's Strategy Inventory for Language Learning (SILL) with a quantitative approach, the study aims to unravel the connections between culture and language learning strategies.
This study aims to explore the cultural, pragmatic, and social concepts encoded in shop sign language through cultural metaphors. The study contributes specific theoretical and practical insights into English and Vietnamese shop signs from the perspective of cultural cognition, thus providing a base for analyzing coding phenomena at the level of cultural conceptualization contact and intercultural pragmatics.
As a branch of English for specific purposes, English for occupational purposes (EOP) is acknowledged to enhance students’ employability. To contribute to the scant existing literature of EOP, this case study explores Vietnamese teachers’ cognitions and practices of EOP teaching. Data were collected from classroom observations and interviews with six teachers in a context of Vietnam.