Trong quá trình phát triển hoạt động kinh doanh nói chung, cạnh tranh nói riêng, nếu ngân hàng thương mại chạy theo lợi nhuận, quy mô và mở rộng thị phần, các ngân hàng thương mại phải không ngừng tăng quy mô vốn điều lệ, đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo thông lệ quốc tế, nâng cao khả năng cung cấp các giao dịch cho khách hàng. Vì vậy, việc phân tích các mối quan hệ đó của một ngân hàng thương mại có ý nghĩa quan trọng trên cả góc độ quản lý nhà nước và quản trị kinh doanh ngân hàng thương mai.
Quản lý tài chính một cách khoa học và hợp lý sẽ là tiền đề để tạo nên sự thịnh vượng cho doanh nghiệp. Trong điều kiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các doanh nghiệp có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng gặp không ít khó khăn và thử thách. Để đẩy mạnh hiệu quả hoạt động, việc quản lý tài chính doanh nghiệp cần được sự quan tâm sâu sắc. Các doanh nghiệp cần tận dụng cơ hội và có giải pháp thích ứng với những yêu cầu mới của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Trên cơ sở vận dụng lí thuyết hành động hợp lí (TRA), thuyết hành vi kiểm soát cảm nhận (TPB), kế thừa mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) và cơ sở lý thuyết cũng như các nghiên cứu trước làm nền tảng xây dựng mô hình nghiên cứu với các biến tác động: Nhận thức sự hữu ích, nhận thức tính dễ sử dụng, nhận thức sự tín nhiệm, chuẩn chủ quan, cảm nhận sự thuận tiện, cảm nhận rủi ro, thái độ và các biến định tính như: giới tính, độ tuổi, dân tộc, đã từng sử dụng máy ATM hay chưa. Để phân tích độ tin cậy và các giá trị của đo lường, nghiên cứu sử dụng mô hình với số lượng mẫu nghiên cứu gồm 193 phiếu khảo sát thu thập từ người hưởng lương hưu trên địa bàn tỉnh Trà Vinh. Kết quả cho thấy được độ tin cậy và giá trị của các đo lường với sự phù hợp của mô hình nghiên cứu giải thích bởi các biến: Cảm nhận sự thuận tiện, Cảm nhận rủi ro, Thái độ, Chuẩn chủ quan, Giới tính và Dân tộc.
Bài viết hệ thống lại những kết quả nghiên cứu trước đây về các nhân tố định tính trong môi trường kinh doanh có ảnh hưởng đến đầu tư của doanh nghiệp, bao gồm các nhân tố như: Cơ sở hạ tầng và công nghệ của nền kinh tế, thể chế địa phương, chính sách ưu đãi của địa phương, văn hóa xã hội của địa phương, thị trường và khả năng tiếp nhận vốn vay. Từ đó có thể thấy rõ khoảng trống nghiên cứu về sự tác động của các nhân tố định tính trong môi trường kinh doanh tới đầu tư của doanh nghiệp và đặt ra yêu cầu về việc nghiên cứu sự tác động của các nhân tố này đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Bài viết trao đổi về vai trò của doanh nghiệp thương mại trong nền kinh tế, những khó khăn thách thức, đưa ra một số đề xuất nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp này phát triển trong bối cảnh mới như dịch bệnh toàn cầu covid -19 hiện nay.
Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi công tác quản lý thị trường phải thay đổi cả tầm tư duy, công cụ cũng như phương cách tác động vào nền kinh tế. Bài viết này trao đổi về những tác động của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đến công tác quản lý thị trường; cũng như cải cách và đổi mới cần thiết trong công tác này để thích ứng với tiến trình hội nhập.
Hợp đồng là một công cụ pháp lý quan trọng, thông qua đó các chủ thể kinh doanh thực hiện hoạt động thương mại. Trong suốt quá trình hoạt động, chủ thể kinh doanh tham gia vào nhiều quan hệ hợp đồng, tuy nhiên, khi ký kết và thực hiện hợp đồng có nhiều rủi ro phát sinh. Những rủi ro khi xảy ra, đẩy các bên vào tình thế khó khăn về tài chính, thậm chí mất khả năng thanh toán và phá sản. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể kiểm soát và phòng tránh những rủi ro pháp lý nhằm nâng cao lợi ích kinh tế đạt được từ giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại. Nhận diện những rủi ro pháp lý trong ký kết và thực hiện hợp đồng, bài viết đề xuất một số giải pháp giúp doanh nghiệp hạn chế những rủi ro trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã chính thức được ký kết tại Chile. Trong hiệp định này vấn đề sở hữu trí tuệ (SHTT) là điều đáng lo ngại nhất đối với Việt Nam. Ở Việt Nam, tình tạng xâm phạm SHTT hiện khá phổ biến và ngày càng phức tạp. Trong CPTPP với 10 điều (trong 20 điều) liên quan đến SHTT được các quốc gia đưa vào thỏa thuận. Bài viết này tập trung vào các cam kết liên quan đến việc thực thi các quyền SHTT trong chương 18 của CPTPP.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm đem lại nhiều lợi ích cho xã hội, bao gồm bảo vệ các tổ chức và cá nhân trước các rủi ro và là kênh huy động vốn để đầu tư, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Vì vậy, việc định hướng cho các doanh nghiệp bảo hiểm phát triển ổn định, bền vững là vô cùng quan trọng. Khảo sát kinh nghiệm của Hàn Quốc về giám sát dựa trên rủi ro đối với doanh nghiệp bảo hiểm; Thực trạng giám sát doanh nghiệp bảo hiểm tại Việt Nam, bài viết đưa ra những gợi ý về chính sách cho Việt Nam.
Cách mạng công nghệ 4.0 với việc áp dụng công nghệ thông tin trong kinh tế đem lại những lợi ích to lớn. Trong đó, thương mại điện tử là lĩnh vực có được nhiều lợi ích rõ ràng nhất như chia sẻ tài nguyên vốn hữu hạn thông qua các dịch vụ chia sẻ của uber, grab, hay cá nhân hóa dịch vụ giao vận như các dịch vụ của Delivery Now, Giaohangtietkiem... Không chỉ vậy, thương mại điện tử cung cấp thông tin phong phú, giúp giảm chi phí sản xuất, giảm phí bán hàng và tiếp thị, giảm phí giao dịch,.. Tuy nhiên, quá trình phát triển các mô hình thương mại điện tử Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại khi thực hiện tại Việt Nam. Chính vì vậy, bài báo sẽ đánh giá thực trạng thương mại điện tử ở Việt Nam để nhận diện và phân tích những khó khăn khi phát triển các mô hình thương mại điện tử Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghệ 4.0.