Bài viết cung cấp các kết quả điều tra về nhận thức tiêu dùng, tập trung làm rõ các nhân tố tác động đến nhận thức tiêu dùng sản phẩm ứng dụng công nghệ cao của người dân tại Tây Nguyên, từ đó đề xuất những hàm ý chính sách phát triển nông nghiệp cao ở Tây Nguyên nói riêng và ở Việt Nam nói chung.
Bài viết nghiên cứu thực trạng, đánh giá tiềm năng phát triển thương mại của tỉnh Phú Thọ, đề xuất các giải pháp phát triển thương mại của tỉnh trong thời gian tới.
Bài viết thực hiện khảo sát các khách du lịch nước ngoài tại Bắc Ninh để có được quan điểm của họ về việc sử dụng các sản phẩm nhập khẩu. Kết quả cho thấy tầm quan trọng của sản phẩm nhập khẩu chưa đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, từ đó đưa ra một số khuyến nghị phát triển sản phẩm địa phương, tận dụng tối đa lợi ích từ du lịch cho người dân sở tại.
Bài viết sử dụng dữ liệu tổng điều tra kinh tế năm 2012 và năm 2017 của Tổng cục Thống kê, theo thành phần kinh tế qua hai phương pháp: ước lượng tác động ngẫu nhiên và điểm xu hướng. Kết quả cho thấy, kinh tế số có ý nghĩa thống kê và tác động tích cực đến năng suất lao động của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Trong khi khu vực kinh tế tư nhân tận dụng tốt kinh tế số để thúc đẩy tăng năng suất lao động, khu vực doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã chưa phát huy vai trò của kinh tế số. Các kết quả này mở ra hàm ý chính sách trong giai đoạn tới nhằm tận dụng tốt các cơ hội từ kinh tế số để thúc đẩy gia tăng năng suất lao động của các thành phần kinh tế.
Nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài tới tiền lương tại các doanh nghiệp trong nước, sử dụng dữ liệu điều tra doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2018. Kết quả ước lượng cho thấy, đầu tư trực tiếp nước ngoài có tác động làm tăng tiền lương thông qua liên kết ngược và làm giảm tiền lương thông qua liên kết xuôi. Phân tích chính sách lương và lao động của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài cho thấy, khối doanh nghiệp này có xu hướng trả mức lương cao hơn cho người lao động, tuy nhiên lại ưu tiên sử dụng lao động trẻ tuổi và thời gian gắn bó tương đối ngắn. Điều này gợi ý rằng, vấn đề bền vững của việc làm cần được chú trọng nhiều hơn trong chính sách điều tiết khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam.
Nghiên cứu đánh giá rủi ro và ước lượng mô hình biến động tỷ suất lợi nhuận của nhóm ngành thực phẩm trên thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên chuỗi số liệu giá đóng cửa theo ngày của nhóm ngành trong giai đoạn 2012 – 2019. Việc ước lượng mô hình biến động lợi suất của nhóm ngành được thực hiện bằng mô hình GARCH cân xứng và mô hình GJR bất cân xứng. Kết quả ước lượng đã chỉ ra rằng mô hình Ả(1) – GARCH (1,1) là có ý nghĩa thống kê đầy đủ cho cả công thức lợi suất trung bình và phương sai có điều kiện của nhóm ngành thực phẩm. Phân tích cũng cho thấy, hệ số beta rủi ro của nhóm ngành thực phẩm trong 52 tuần gần nhất dao động tập trung ở mức thấp hơn so với rủi ro chung của thị trường và có sự phân tán.
Nghiên cứu làm rõ mục tiêu chính của chuyển đổi số doanh nghiệp là tăng cường mức độ trưởng thành số thông qua một quá trình liên tục cải tiến các hệ sinh thái số và lãnh đạo số là một trong những yếu tố thúc đẩy quan trọng giúp quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp được thuận lợi. Kết quả nghiên cứu gợi ý cho các doanh nghiệp có chiến lược triển khai lãnh đạo số linh hoạt thông qua triển trai các mô hình lãnh đạo số phù hợp với từng giai đoạn chuyển đổi, với mức độ trưởng thành số và với khoảng trống lãnh đạo của doanh nghiệp. Đồng thời chính sách công cũng cần đổi mới để hỗ trợ nâng cao nhận thức và nguồn cung lãnh đạo chuyển đổi số cho các doanh nghiệp.
Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng phát triển du lịch ở Khánh Hoà trong thời gian 10 năm qua dưới góc độ phát triển bền vững, sử dụng hệ thống tiêu chí đánh giá do Tổ chức Du lịch thế giới của Liên hợp quốc đề ra để phân tích kết quả khảo sát thực tiễn và số liệu thống kê; từ đó đưa ra một số gợi ý chính sách nhằm phát triển du lịch bền vững ở tỉnh Khánh Hoà nói riêng và trong cả nước nói chung trong thời gian tới.