Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 được nhận định là sẽ mang đến sự thay đổi cơ bản trên hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề, trong đó có ngành kế toán - kiểm toán. Bài viết đưa một số tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 tới dịch vụ kế toán Việt Nam, những cơ hội cũng như những thách thức trong thời gian tới, từ đó đưa ra một số khuyến nghị phù hợp với giai đoạn hiện tại.
Mục tiêu của bài viết là kiểm tra mối quan hệ giữa quyền sở hữu nước ngoài đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam thông qua phương pháp hồi quy phân vị. Với số liệu thu thập được trong giai đoạn từ 2015 – 2017 của 243 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, kết quả chỉ ra rằng quyền sở hữu nước ngoài ảnh hưởng tích cực tới thành quả hoạt động của doanh nghiệp và mức độ tác động này mạnh hơn tới doanh nghiệp có kết quả kinh doanh cao so với doanh nghiệp có kết quả kinh doanh thấp. Đồng thời, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị liên quan tới doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước.
Nghề kế toán, giống như tất cả các ngành nghề, đều trải qua giai đoạn đánh giá, định vị lại vai chức năng trong tương lai trong bối cảnh mới của nền kinh tế kết quả của những thay đổi, biến động về thể chế kinh tế, về văn hóa, về phát triển khoa học - công nghệ và môi trường kinh tế - xã hội. Cần nhận thức cho đúng chức năng của kế toán, kiểm toán trong tương lai, trước những, biến động của các thể chế và sự phát triển của khoa học công nghệ. Hãy tìm giải pháp để tôn vinh giữ gìn kế toán là một nghề đáng được tôn trọng, đánh giá cao trong tương lai cho các thế hệ mai sau.
Bài viết nhìn lại thực trạng chính sách hỗ trợ bảo hiểm đối với sản xuất nông nghiệp được ban hành và áp dụng trong những năm gần đây, chỉ ra một số hạn chế trong việc hỗ trợ phí bảo hiểm cho các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số nội dung cần hoàn thiện trong các quy định về hỗ trợ bảo hiểm nhằm góp phần mở rộng tiếp cận tín dụng trong sản xuất nông nghiệp.
Tội phạm sử dụng công nghệ cao đứng thứ hai trong các loại tội phạm nguy hiểm nhất, sau tội phạm khủng bố và Việt Nam đang đứng trong tốp 7 thế giới về các hoạt động đe dọa tấn công mạng, số các vụ án mà đối tượng lợi dụng mạng internet để thực hiện hành vi tội phạm sử dụng công nghệ cao ngày càng nhiều và tinh vi hon, đặc biệt có sự liên kết giữa tội phạm trong và ngoài nước thông qua các phưong pháp tấn công vào hệ thống như là Phishing (lừa đảo), Deface (xâm nhập), Malware (phần mềm độc h ại)... đế tấn công vào người sử dụng, số liệu tổng hợp trong giai đoạn 2010 - 2019 có 207.353 cuộc tấn công vào Việt Nam, trong đó Phishing là 29.059 cuộc (14,01%), Deface là 105.971 cuộc (chiếm 51,11%), Malware là 72.323 cuộc (chiếm 34,88%). Bài viết phân tích tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam và các biện pháp phòng chống để nâng cao tính bảo mật, an toàn của môi trường mạng. Bài viết cũng phân tích tình hình bảo mật và an ninh thông tin thông qua chỉ số an toàn thông tin mạng toàn cầu (Global Cypersecrurity Index), chi sổ an toàn thông tin Việt Nam (Vietnam Cybersecurity Index). Dựa trên nhũng số liệu này, bài viết đề xuất các chính sách để cải thiện và hạn chế tỉnh hình hoạt động của tội phạm công nghệ cao và sự cố an ninh mạng.
Với sự hỗ trợ của các công cụ tài chính xanh. Thái Lan và Hàn Quốc là 2 quốc gia có nền phát triển kinh tế nhanh đi đôi với việc kiểm soát môi trường tốt. Trong khi Thái Lan sử dụng nguồn thu từ thuế xăng dầu để lập quỹ và dùng toàn bộ nguồn này để thúc đẩy tiết kiệm năng lượng, đầu tư cho năng lượng tái tạo bào vệ môi trường; Hàn Quốc sử dụng kết hợp chính sách môi trường kèm theo các công cụ tài chính một cách đồng bộ không những góp phần cho công tác bảo vệ môi trường tốt hon mà còn khuyến khích hướng tới sự phát triển bền vừng. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm về hoạt động cho vay ưu đãi bão vệ môi trường tại Thái Lan và Hàn Quốc, từ đó rút ra các bài học và đề xuất một số khuyến nghị đối với hệ thống các Quỹ Bào vệ môi trường tại Việt Nam
Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến hệ thống tài chính nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng của các quốc gia. Khủng hoàng đã thu hút sự chú ý của các nhà tạo lập chính sách và các nhà quản lý về mối liên hệ giữa chính sách tiền tệ (CSTT) với rủi ro của các ngân hàng thương mại (NHTM) nói riêng và sự ổn định của hệ thống tài chính nói chung. Trong bài viết này, các tác già đã khái quát những nghiên cứu trước đây về tác động của CSTT đến rủi ro của các NHTM, từ đó xây dựng mô hình định lượng để đánh giá tác động cùa CSTT đến rủi ro cùa các NHTM dựa ưên bộ dữ liệu dạng bàng cân đối (balanced panel data) của 12 ngân hàng trong khoảng thời gian từ quý 1/2010 đến quý IV/2019. Kết quà nghiên cứu cho thấy CSTT có tác động cùng chiều với rủi ro tín dụng (tỷ lệ nợ xấu) và tác động ngược chiều với rủi ro nói chung (Z-score) cùa các NHTM, cụ thể, khi CSTT nới lỏng được thực hiện sẽ làm cho rủi ro tín dụng của ngân hàng tàng, tuy nhiên rủi ro nói chung giảm.
Nghiên cứu thực nghiệm đế kiềm tra tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đến tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn từ 2003 - 2020. Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy theo mô hình véc tơ tự hiệu chinh sai số cho chuỗi dữ liệu thời gian được thu thập. Kết quả cho thấy chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa mở rộng có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Hơn nữa, trong các kênh truyền dẫn của chính sách tiền tệ thì tín dụng trong nền kinh tế có tác động lớn nhất. Việc thâm hụt ngân sách trong dài hạn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế. Từ đó hàm ý Ngân hàng Nhà nước cần chú ý kiếm soát lượng tín dụng trong nền kinh tế và Bộ Tài chính cần xây dựng cơ cấu thu ngân sách bền vững.
Trong báo cáo cập nhật vể triển vọng kinh tế toàn cầu, Quỹ Tìển tệ quốc tế (IMF) nhận định, tiến trình phục hối kinh tế tiếp tục phân kỳ giữa các nhóm quốc gia, do mức độ tiếp cận vắc xin không đổng đều và m ột số thay đổi về chính sách hỗ trợ tài chính. Trong số này, tiếp cận vắc xin không đồng đều, dần đến tình trạng phân nhánh quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu thành hai khối với tốc độ tăng trường khác nhau: Khối thứ nhất bao gồm các nước phát triển - những quốc gia đang trông chờ vào khả năng cuộc sống sẽ trở lại bình thường vào cuối năm nay; Khối thứ hai bao gồm những quốc gia đang tiếp tục đối mặt với rủi ro lan truyền đại dịch với số ca nhiễm COV1D-I9 và tử vong ngày càng tăng cao.
Hệ thống đơn vị công được thành lập và hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước để thực hiện nhiệm vụ cung cấp những dịch vụ hành chính, dịch vụ công thiết yếu, liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của người dân và hoạt động của các tổ chức trong xã hội. Hiệu quả hoạt động của hệ thống đơn vị công phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ cấu tổ chức các đơn vị theo ngành, lĩnh vực tinh gọn, hợp lý; cơ chế tài chính thích hợp, quản trị tiên tiến và nguồn nhân lực có chất lượng cao… Sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu hưởng thụ dịch vụ công của người dân và xã hội ngày càng cao và đa dạng. Để đáp ứng nhu cầu đó, đồng thời bảo đảm khả năng cạnh tranh của các đơn vị công cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị công. Vì vậy, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị công là rất cần thiết để giữ được vai trò chủ đạo, then chốt trong thị trường dịch vụ công, đồng thời góp phần bảo đảm ổn định chính trị, xã hội nói chung và từng ngành, lĩnh vực cụ thể nói riêng.Trong bài viết này sẽ trình bày các nghiên cứu của các nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng thẻ điểm khu vực công (PSS) trong đánh giá hiệu quả hoạt động của các đơn vị công.