Xây dựng nên mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận ứng dụng phần mềm kế toán (PMKT) đám mây trong các DN nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam. Dựa vào lý thuyết TAM (Technology acceptance model) của Venkatesh và Davis, (1996), cùng với các nghiên cứu liên quan, nhóm tác giả đã xây dựng nên mô hình nghiên cứu gồm 05 nhân tố độc lập: (nhận thức về tính hữu ích, nhận thức về tính dễ sử dụng, ảnh hưởng xã hội, các điều kiện thúc đẩy và giá phí PMKT đám mây); 01 nhân tố trung gian (ý định sử dụng PMKT đám mây) có tác động đến việc chấp nhận ứng dụng PMKT đám mây, trong các DNNVV tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu này, sẽ là tiền đề, để các nghiên cứu sau thực hiện kiểm định với quy mô mẫu lớn, nhằm đưa ra được kết quả chính xác nhất về vấn đề này.
Bài báo được thực hiện, dựa trên báo cáo thường niên năm 2020 của 160 công ty sản xuất niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội. Kết quả chỉ ra rằng, (1) mức độ công bố bắt buộc thông tin môi trường vào năm 2020 là thấp (40,06%); (2) yếu tố tuổi của CEO có liên quan đến mức độ công bố bắt buộc thông tin môi trường. Trong khi, các yếu tố giới tính (GENDER); trình độ học vấn (EDU); chuyên ngành kế toán hoặc tài chính (MAJOR); người nước ngoài (FORN) không có ý nghĩa thống kê.
Nghiên cứu về ý nghĩa và tác động của quá trình số hóa đối với KTQT, từ đó đưa ra những đề xuất về việc đào tạo KTQT, để phù hợp với bối cảnh đó. Bài viết này có ý nghĩa với các chuyên gia KTQT, trong việc xác định các đặc điểm và bản chất của KTQT, trong bối cảnh hiện tại. Đồng thời, cũng đề cập đến một số các kỹ năng, tiềm năng mà các chuyên gia KTQT nên nắm bắt, để giải quyết những thách thức của môi trường mới.
Bài viết này, tìm hiểu về công tác kế toán quản trị (KTQT) chi phí trong các DNXD tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang hiện nay và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng việc khảo sát trực tiếp 350 nhân viên kế toán của các doanh nghiệp (DN) trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Các phương pháp và công cụ được sử dụng là: thống kê mô tả, kiểm định thang đo, phân tích EFA, kiểm định CFA, kiểm định SEM bằng phần mềm SPSS và AMOS. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 07 yếu tố gồm: cơ hội phát triển và thăng tiến; lương, thưởng và phúc lợi; quan hệ cấp trên; đánh giá và công nhận thành tích; điều kiện làm việc; bản chất công việc; quan hệ đồng nghiệp tác động đến động lực làm việc của nhân viên kế toán, tại các DN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.
Theo lộ trình, việc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) cho các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam đang đến rất gần. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều những khó khăn, thách thức đặt ra cho ngành ngân hàng từ vấn đề chính sách, triển khai, nhận thức, đào tạo, cơ sở hạ tầng… khiến cho các NHTM cần có bước đi mạnh dạn nhưng cũng phải hết sức thận trọng, để chuẩn bị điều kiện tốt nhất khi chính thức triển khai IFRS. Hỗ trợ cho quá trình đó, Bộ Tài chính, ngân hàng Nhà nước, thậm chí các nhóm công tác liên bộ, hiệp hội nghề nghiệp, các công ty tư vấn… rất cần phải đồng hành, để lộ trình này đạt được kết quả như kỳ vọng.
Bài viết đi sâu nghiên cứu thực tiễn kế toán CKTM, phương pháp ghi nhận đứng trên góc độ người mua và người bán và cách xuất hóa đơn khi bán hàng. Từ đó, giúp những người trực tiếp và gián tiếp làm công tác kế toán hiểu và ghi nhận khoản chiết khấu này.
Tổ chức công tác kế toán là một trong các nội dung tổ chức quản lý trong các doanh nghiệp (DN), phải phù hợp với quy mô, đặc điểm kinh doanh cũng như yêu cầu quản lý. Trong những năm qua, khung pháp lý về tổ chức công tác kế toán cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) luôn được hoàn thiện, đã tạo hành lang pháp lý tương đối thống nhất, thuận lợi cho công tác quản lý Nhà nước về tài chính cũng như tổ chức công tác kế toán.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm điều tra ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến giá trị doanh nghiệp (DN) của các công ty logistics niêm yết trên thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, giai đoạn 2016 - 2020. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cấu trúc vốn có ảnh hưởng tích cực đến giá trị DN đại diện bởi cả ROE và Tobin’s Q. Đối với các biến kiểm soát, quy mô DN được tìm thấy có ảnh hưởng tiêu cực đến cả ROE và Tobin’s Q, tốc độ tăng trưởng chỉ có ảnh hưởng tích cực đến ROE, cấu trúc tài sản chỉ có ảnh hưởng tích cực đến Tobin’s Q còn tỷ số thanh toán ngắn hạn không có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc.