CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

chủ đề: Diễn ngôn

  • Duyệt theo:
1 Tỉnh lược và thế với tư cách phương thức liên kết ở các diễn ngôn trong cuốn Hồ Chí Minh “về vấn đề giáo dục” / Dương Thị Bích Hạnh // .- 2024 .- Số 7(356) .- Tr. 56-61 .- 400

Tỉnh lược là một hình thức của phép thế, thế bằng zêrô. Trong phép tỉnh lược và phép thế, cái được chú ý là yếu tố bị tỉnh lược và thay thế. Những yếu tố này có thể là: danh từ (cụm danh từ), động từ, tính từ (cụm động từ/ cụm tính từ), mệnh đề (cấu trúc chủ - vị, hay cú). Trong các diễn ngôn của cuốn Hồ Chí Minh “Về vấn đề giáo dục”, có thể nhận thấy, phép tỉnh lược và phép thế thường được sử dụng để liên kết câu. Các yếu tố bị tỉnh lược hoặc thay thế đều giữ chức vụ ngữ pháp trong câu. Chúng có thể là chủ ngữ, vị ngữ hoặc trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ. Bên cạnh tác dụng liên kết, việc sử dụng phép tỉnh lược và phép thế còn là một dụng ý nghệ thuật của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhờ phép tỉnh lược và phép thế mà các diễn ngôn của Người trở nên ngắn gọn, cô đúc, không rườm rà, tránh được lỗi lặp từ ngữ.

2 Emma Watson và bài diễn thuyết về bình đẳng giới (2014) : nhìn từ góc độ phân tích diễn ngôn theo mô hình của Fairclough / Nguyễn Thị Huyền Trang // .- 2024 .- Số 9(358) .- Tr. 125-131 .- 400

Tập trung phân tích một trong những bài diễn thuyết được thực hiện bởi Emma Watson liên quan tới chủ đề bình đẳng giới. Tác giả sử dụng mô hình phân tích diễn ngôn ba chiều của Fairclough để đánh giá và phân tích cách Watson sử dụng từ, ngữ, cấu trúc câu để đạt được tính thuyết phục cao nhất. Nghiên cứu cho thấy, sự lựa chọn ngôn ngữ của Emma Watson rất phù hợp trong bối cảnh xã hội hiện nay. Có thể thấy, nhờ những sự lựa chọn khôn ngoan này, bài diễn thuyết đã gây tiếng vang rộng khắp thế giới, góp phần kêu gọi nhiều tiếng nói đấu tranh cho bình đẳng giới.

3 Đối chiếu nguồn lực tương tác ngoại ngôn trong diễn ngôn án văn Việt Nam và Vương Quốc Anh / Phạm Thị Thùy Dung, Nguyễn Văn Chính, Phan Tuấn Ly // .- 2026 .- Số 7(384) .- Tr. 87-95 .- 400

Bài viết nghiên cứu đối chiếu các nguồn lực tương tác ngoại ngôn trong án văn Việt Nam và Vương quốc Anh. Ngữ liệu gồm 10 bản án phúc thẩm (khoảng 120 trang A4) của Tòa án Việt Nam và Vương quốc Anh. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn kết hợp đối chiếu, đồng thời áp dụng thủ pháp thống kê để kiểm đếm tỉ lệ các chỉ tố siêu diễn ngôn. Kết quả cho thấy án văn tiếng Việt chủ yếu làm nổi bật quan điểm của Tòa án bằng chỉ tố nhấn mạnh, sử dụng chỉ tố thái độ biểu đạt mức độ đồng thuận hoặc bác bỏ. Ngược lại, án văn tiếng Anh thể hiện quan điểm của Tòa án đa dạng hơn, không chỉ qua chỉ tố nhấn mạnh mà còn thông qua chỉ tố rào đón và chỉ tố thái độ.

4 Đặc điểm kênh chữ của diễn ngôn flex nhìn từ lí thuyết ngữ vực / Trần Kim Phượng, Hoàng Nguyễn Minh Khuê // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 3-14 .- 400

Diễn ngôn flex là sản phẩm của hiện tượng flex - một hiện tượng ngôn ngữ - xã hội hấp dẫn, thú vị, thu hút hàng triệu người quan tâm ở Việt Nam. Đây là một loại diễn ngôn đa phương thức, gồm cả kênh chữ và kênh hình, ghi lại những điều đáng tự hào hoặc những điểm độc đáo của bản thân hay người thân mà chủ thể phát ngôn muốn khoe với mọi người. Khảo cứu kênh chữ trong diễn ngôn flex từ góc độ ngữ vực - một lí thuyết căn bản của Phân tích diễn ngôn - giúp ta thấy được sự đắc dụng của lí thuyết này trong nghiên cứu diễn ngôn và đồng thời cũng cho ta hiểu thêm về cách nói năng cũng như đời sống tinh thần của giới trẻ trong xã hội hiện đại - xã hội mà họ hoàn toàn được bộc lộ bản thân mình trước đám đông.

5 Sự kì thị giới tính đối với nữ giới trong tiếng Anh (trên cứ liệu các cuộc phỏng vấn trực tiếp với người nổi tiếng) / Nguyễn Thị Lệ Mỹ // .- 2024 .- Số 8(357) .- Tr. 23-30 .- 420

Nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu sự hiện diện và phản ánh của chủ nghĩa phân biệt giới tính, từ đó khám phá mức độ mà các thành kiến về giới được thể hiện thông qua việc sử dụng tiếng Anh. Trước hết, bài viết định nghĩa chủ nghĩa phân biệt giới tính và những phương tiện biểu đạt sự phân biệt giới tính. Qua việc xác định những phương tiện biểu đạt và sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn phê phán, nghiên cứu đã phân tích hai bài phỏng vấn trực tiếp bằng tiếng Anh với hai ca sĩ nổi tiếng người Mỹ. Nghiên cứu phát hiện ra sự phân biệt giới tính cả công khai và ít trực tiếp còn tồn tại, nhưng những ngữ cảnh được lựa chọn cho thấy sự giảm dần của vấn đề này theo thời gian. Bài viết mong muốn góp phần mở rộng hiểu biết về mối liên hệ giữa ngôn ngữ và bình đẳng giới.

6 Chiến lược ngôn ngữ chỉ thang độ áp dụng trong diễn ngôn quảng cáo du lịch tiếng Việt trên Website của Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam / Tạ Lê Minh Phước, Nguyễn Thị Như Ngọc // .- 2025 .- Số 11 .- Tr. 94-103 .- 400

Bài báo này vận dụng khung đánh giá (Appraisal) do J.R. Martin và P.R.R. White [17] phát triển nhằm khám phá các chiến lược Thang độ (Graduation), bao gồm Focus (tiêu điểm) và Force (cường độ), được sử dụng trong diễn ngôn du lịch tiếng Việt trên trang web chính thức của Tổng cục Du lịch Việt Nam (https://vietnamtourism.gov.vn/). Hai mươi bài viết quảng bá được đăng tải trên trang web trong giai đoạn 2024–2025 đã được khảo sát bằng phương pháp miêu tả ngôn ngữ kết hợp với phương pháp thống kê nhằm làm rõ các đặc điểm của loại diễn ngôn này. Kết quả nghiên cứu cho thấy diễn ngôn du lịch tiếng Việt sử dụng đa dạng các chiến lược Thang độ để thuyết phục khách hàng tiềm năng, trong đó nổi bật là sự phụ thuộc đáng kể vào Force, đặc biệt là các biểu thức nhằm tăng cường trải nghiệm du lịch của du khách.

7 Các xu hướng nghiên cứu “siêu diễn ngôn” trên thế giới / Nguyễn Văn Chính, Phan Tuấn Ly // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 35-44 .- 400

Bài nghiên cứu này nhằm khái quát tình hình nghiên cứu toàn cầu liên quan đến lĩnh vực siêu diễn ngôn. Lý thuyết này được đề xuất bởi Hyland (2005) cung cấp một khung phân tích quan trọng để tiếp cận sự tương tác giữa người viết/người nói với người đọc/người nghe, cũng như nhằm làm rõ mối quan hệ giữa người viết/người nói với văn bản. Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, phương pháp tổng hợp và thủ pháp thống kê đã được áp dụng để khái quát 20 công bố có liên quan, được tìm kiếm từ cơ sở dữ liệu Scopus.

8 Một số vấn đề cơ bản của phân tích diễn ngôn với sự trợ giúp của khối liệu / Phan Thanh Bảo Trân, Nguyễn Thị Diệp Như, Bùi Thanh Tường Thụy // .- 2025 .- Số 12 .- Tr. 51-60 .- 400

Bài báo này khảo sát phân tích diễn ngôn từ một góc nhìn liên ngành, tập trung vào sự giao thoa giữa phân tích diễn ngôn và ngôn ngữ học ngữ liệu. Nghiên cứu nhằm làm rõ vai trò tương ứng của ngôn ngữ học ngữ liệu và phân tích diễn ngôn trong nghiên cứu ngôn ngữ học liên ngành. Nghiên cứu về ngôn ngữ trong sử dụng cần được đặt trên nền tảng lý thuyết của ngôn ngữ học và phân tích diễn ngôn. Bài báo này cung cấp một cái nhìn tổng quan mang tính nhập môn về chủ đề, hơn là một phân tích chuyên sâu, và hướng tới việc đặt nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo mang tính toàn diện hơn.

9 Phân tích thông điệp của Hồ Chí Minh trong trả lời báo chí quốc tế và bài học cho người làm công tác báo chí đối ngoại hiện nay / Lý Thị Hải Yến, Phạm Mai Linh // .- 2025 .- Số 1 .- Tr. 201-224 .- 327

Dựa trên khảo sát hơn 130 bài trả lời phỏng vấn báo chí quốc tế của Hồ Chí Minh, bài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn, cụ thể là dựa vào mô hình của lý thuyết Phân tích đánh giá, để phân tích các thông điệp và cách thức sử dụng ngôn ngữ của Hồ Chí Minh trong trả lời báo chí quốc tế. Bài nghiên cứu nêu bật những thông điệp xuyên suốt qua các bài phỏng vấn, cũng như nghệ thuật trả lời phỏng vấn của Hồ Chí Minh, từ đó rút ra một số bài học tham khảo cho người làm công tác báo chí đối ngoại hiện nay.

10 Diễn ngôn Thương nhớ thời bao cấp từ góc nhìn phân tích diễn ngôn đa phương thức / Trương Trang Nhung // .- 2023 .- Số 9 .- Tr. 72-80 .- 400

Diễn ngôn Thương nhớ thời bao cấp là sản phẩm giao tiếp có sự kết hợp thú vị giữa kênh chữ và kênh hình nhằm tái hiện khung cảnh sinh hoạt, lao động của người Việt những năm trước Đổi mới. Tác phẩm không chỉ là dấu ấn của những thiếu thốn một thời mà còn là minh chứng cho cái nhìn điềm tĩnh, thái độ phản biện hài hước của nhân dân ta trước nhọc nhằn của đời sống. Vận dụng lí thuyết Ngữ pháp chức năng của M. Halliday để khảo cứu kênh chữ cùng lí thuyết Ngữ pháp hình ảnh của T. Leeuwen và G. Kress để khảo cứu kênh hình, bài viết đem đến những lí giải không chỉ về cách diễn ngôn tạo nghĩa, thiết lập giao tiếp với bạn đọc mà còn về cách người Việt ta đã sinh sống, tư duy và đối diện với những thiếu thốn một thời.