CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Răng Hàm Mặt

  • Duyệt theo:
1 Đánh giá mức độ biến dạng đường hô hấp trên ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm: Một phân loại cải biên dựa trên dấu hiệu xâm phạm đường giữa / Nguyễn Ngọc Thạch, Nguyễn Quang Bình, Võ Văn Hiển, Nguyễn Đăng Thứ, Trần Hoài Nam, Phạm Quốc Khánh, Nguyễn Văn Luân // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 223-232 .- 610

Đánh giá mức độ biến dạng đường hô hấp trên là một trong những bước quan trọng trong tiên lượng khó đặt nội khí quản ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt. Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ biến dạng đường hô hấp trên theo phân loại cải biên ba mức độ dựa trên dấu hiệu xâm phạm đường giữa trên hình ảnh cắt lớp vi tính ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt có khít hàm. Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang có phân tích trên 102 người bệnh có độ há miệng tối đa nhỏ hơn 20 mm. Mức độ biến dạng được chia thành 3 mức: không biến dạng; biến dạng nhưng chưa xâm phạm đường giữa; và biến dạng có xâm phạm đường giữa. Số liệu được phân tích bằng tương quan Spearman và hồi quy logistic thứ bậc. Kết quả cho thấy tỷ lệ người bệnh có biến dạng đường hô hấp trên là 74,51%, trong đó có 46,08% biến dạng xâm phạm đường giữa; mức độ biến dạng không liên quan với số vùng giải phẫu có áp xe, nhưng liên quan chặt chẽ với độ há miệng tối đa (β = -0,222; p < 0,001). Kết luận: Phân loại cải biên ba mức độ biến dạng đường hô hấp trên là công cụ đơn giản, có thể có tiềm năng sử dụng để đánh giá nhanh tình trạng đường hô hấp trên ở người bệnh áp xe vùng hàm mặt.

2 Đặc điểm chiều ngang cung răng hàm trên và hàm dưới theo chỉ số Yonsei trên phim CBCT ở người bệnh sai khớp cắn loại III do xương / Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Hương Ly, Đào Thị Dung, Vũ Thị Thu Trang // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr.86-92 .- 617

Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu nhằm đánh giá đặc điểm tương quan chiều ngang cung răng hàm trên và hàm dưới ở người bệnh sai khớp cắn loại III do xương chưa điều trị chỉnh nha trên phim cắt lớp vi tính chùm tia hình nón. Độ rộng cung răng hàm trên tại vùng răng hàm lớn thứ nhất (AWU6), độ rộng cung răng hàm dưới (AWL6) và chênh lệch AWU6-AWL6 được đo theo nguyên lý chỉ số Yonsei. Các chỉ số được phân tích theo giới và nhóm tuổi. AWU6 trung bình là 47,09 ± 2,36 mm, AWL6 là 50,15 ± 1,99 mm; chênh lệch AWU6-AWL6 là -3,05 ± 2,07 mm. Chênh lệch âm được ghi nhận ở 79 trường hợp (97,5%). Mức chênh lệch âm lớn nhất gặp ở nhóm dưới 15 tuổi (-4,00 ± 2,13 mm), sau đó giảm dần ở nhóm 15-18 tuổi và trên 18 tuổi. Người bệnh sai khớp cắn loại III do xương có xu hướng bất tương xứng chiều ngang hàm trên-hàm dưới tại vùng răng hàm lớn thứ nhất.

3 Phân tích áp lực hô hấp trên các sai hình xương sọ mặt khác nhau / Vũ Thị Thu Trang, Vũ Đình Việt Anh, Lê Đình Tùng, Đỗ Hoàng Việt, Trần Thị Bích Hòa, Nguyễn Thanh Huyền // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 1-8 .- 617.6

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mối liên hệ giữa hình thái đường thở và hình thái sọ mặt, nhấn mạnh nhiều hơn vào chiều trước–sau so với chiều dọc. Tuy nhiên, mối liên quan giữa các dạng sai hình xương và chức năng hô hấp vẫn chưa được làm rõ. Mặc dù các nghiên cứu ba chiều ghi nhận sự gia tăng kích thước đường thở sau điều trị chỉnh nha, những thay đổi hình thái không nhất thiết phản ánh cải thiện chức năng. Chức năng đường thở phụ thuộc vào sức cản luồng khí và hoạt động cơ hô hấp, trong đó áp lực hô hấp tối đa (RMS) là chỉ số quan trọng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá RMS ở bệnh nhân có các dạng sai hình xương khác nhau và khảo sát mối liên quan với kích thước đường thở trên CBCT. RMS trong nghiên cứu này dùng để chỉ mức độ thay đổi áp lực dòng khí thu được từ mô phỏng CFD của đường thở trên, không phải sức mạnh cơ hô hấp (respiratory muscle strength) trong sinh lý hô hấp.Kết quả cho thấy RMS cao nhất ở nhóm hạng II (5,8 ± 5,5), tiếp theo là hạng I (4,6 ± 4,3) và thấp nhất ở hạng III (3,9 ± 3,0), với sự khác biệt có ý nghĩa giữa hạng II và hạng III. Những phát hiện này cho thấy sự khác biệt về chức năng hô hấp giữa các dạng sai hình xương, gợi ý rằng kết hợp đánh giá RMS và hình thái đường thở có thể hỗ trợ chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị chỉnh nha hiệu quả hơn.

4 Kích thước lỗ cằm và lỗ cằm phụ trên phim CBCT ở người trưởng thành từ 18 - 30 tuổi tại Hà Nội / Trương Đình Khởi, Lê Linh Chi // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 9-18 .- 617.6

Mục tiêu nghiên cứu là mô tả kích thước, tỷ lệ xuất hiện, hướng phân bố của lỗ cằm, lỗ cằm phụ và đánh giá sự khác biệt theo giới tính, vị trí hai bên cung hàm trên phim CBCT ở người trưởng thành 18 - 30 tuổi tại Hà Nội. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 127 phim CBCT (58 nam, 69 nữ), khảo sát 254 lỗ cằm và 25 lỗ cằm phụ. Kết quả cho thấy theo giới tính, hầu hết các chỉ số (MCL, MFVD, MFW, DFU, DFL) ở nam lớn hơn so với nữ có ý nghĩa thống kê (p < 0,01) ngoại trừ góc ống cằm (p > 0,05). Tỷ lệ lỗ cằm phụ là 9,84%; các kích thước không khác biệt giữa hai bên nhưng ở nam lớn hơn ở nữ (p < 0,05). Hướng mở lỗ cằm phụ chủ yếu là hướng gần (76%). Lỗ cằm ghi nhận xu hướng đối xứng hai bên trong mẫu nghiên cứu. Lỗ cằm phụ có đặc điểm hình thái riêng biệt, phân bố có xu hướng theo giới và theo cung hàm tương đồng với lỗ cằm. Việc đánh giá CBCT trước can thiệp có ý nghĩa quan trọng trong chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị nhằm hạn chế biến chứng thần kinh trong thực hành nha khoa.

5 Hình thái, kích thước lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên xương hàm dưới trên phim CBCT ở người trung niên 45 - 59 tuổi / Trương Đình Khởi, Lê Linh Chi // .- 2026 .- Tập 205 - Số 8 .- Tr. 19-26. .- 617

Mục tiêu nghiên cứu là mô tả kích thước, tỉ lệ xuất hiện, phân bố theo giới tính và vị trí, tỉ lệ có kích thước > 1 mm của lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên trên phim CBCT ở người trung niên 45 - 59 tuổi. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 158 phim CBCT (87 nam, 71 nữ), khảo sát 247 lỗ lưỡi giữa và 274 lỗ lưỡi bên. Kết quả cho thấy rằng 100% đối tượng có ít nhất một lỗ lưỡi giữa; lỗ lưỡi bên xuất hiện với tỷ lệ 71,52%. Lỗ lưỡi giữa chủ yếu nằm trên gai cằm (72,15%) trong khi lỗ lưỡi bên tập trung ở vùng răng hàm nhỏ và răng hàm lớn. Các kích thước của cả lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên ở nam lớn hơn nữ có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Phần lớn các lỗ có kích thước ≤ 1 mm, tuy nhiên vẫn ghi nhận một tỷ lệ nhất định > 1 mm, đặc biệt ở lỗ lưỡi giữa. Lỗ lưỡi là cấu trúc giải phẫu phổ biến với sự biến thiên đáng kể về số lượng, vị trí và kích thước, đồng thời có sự khác biệt rõ rệt theo giới tính. CBCT nên được cân nhắc trong các trường hợp phẫu thuật có nguy cơ cao hoặc nghi ngờ biến thể giải phẫu để hỗ trợ việc lập kế hoạch điều trị chính xác, phù hợp hơn, giảm nguy cơ biến chứng.

6 Biến chứng trên mắt sau tiêm filler - báo cáo ca lâm sàng hiếm gặp và tổng quan y văn / Lê Anh Tùng, Vũ Thị Quế Anh, Hoàng Thanh Tùng // .- 2025 .- Tập 189 - Số 4 .- Tr. 376-384 .- 610

Biến chứng mắt do tiêm filler, dù hiếm, thường gây hậu quả nghiêm trọng, nặng nề nhất là mù lòa do tắc động mạch (ĐM) mắt khi tiêm các chất như axit hyaluronic (HA) hoặc mỡ tự thân vào vùng giàu mạch máu như trán và mũi gây thuyên tắc hoặc co thắt mạch máu. Các biến chứng khác do tình trạng này là hội chứng (HC) thiếu máu bán phần trước, nhồi máu não, hoặc teo nhãn cầu. Bài viết trình bày trường hợp bệnh nhân nam tới Bệnh viện Đại học Y Hà Nội (BVĐHYHN) do mất thị lực và sụp mi mắt phải sau tiêm HA vùng trán cách vào viện 30 phút. Đánh giá bệnh nhân cho thấy có tắc ĐM trung tâm võng mạc, xuất huyết tiền phòng, phù giác mạc và nhồi máu não. Bệnh nhân được cấp cứu bằng tiêm hyalunidase qua chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), hạ nhãn áp và chống viêm. Sau 7 ngày điều trị, tình trạng vận nhãn và sụp mi cải thiện đáng kể, nhưng thị lực hồi phục hạn chế. Bệnh nhân xuất viện điều trị ngoại trú và tiếp tục theo dõi định kỳ.

7 Liên quan giữa hình thái mọc và các biến chứng của răng khôn hàm dưới trên người bệnh tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông / Lưu Văn Tường, Cao Đoàn Duy, Nguyễn Thị Hạnh, Trương Đình Khởi, Dương Đức Long, Phạm Lê Hương Linh, Nguyễn Thị Minh Huyền, Đinh Diệu Hồng // .- 2025 .- Tập 188 - Số 3 .- Tr. 10-17 .- 617.6

Nghiên cứu được đánh giá ở 65 người bệnh đến khám tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông với 115 răng khôn hàm dưới nhằm xác định mối liên quan giữa hình thái mọc của răng khôn hàm dưới (RKHD) với các biến chứng trên lâm sàng và X-quang.

8 Độ bền kháng gãy của răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên đã điều trị nội nha được phục hồi bằng composite và chốt sợi / Nguyễn Thị Minh Huyền, Nguyễn Thị Hạnh, Lê Hưng, Lưu Minh Quang, Đinh Diệu Hồng // .- 2025 .- Tập 188 - Số 3 .- Tr. 18-24 .- 617

Nghiên cứu so sánh độ bền kháng gãy và khảo sát kiểu nứt gãy của răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên đã điều trị nội nha, phục hồi bằng composite và chốt sợi ở các nhóm khác nhau. Nghiên cứu in vitro trên 20 răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên (2 ống tủy) nhổ vì lý do chỉnh nha ở người dưới 30 tuổi và được chia thành 4 nhóm (n = 5): nhóm 1 còn đủ thành và nhóm 2 mất một thành được phục hồi bằng composite; nhóm 3 mất hai thành và nhóm 4 không còn thành, được phục hồi bằng composite và chốt sợi. Mẫu được đo lực nén đến khi nứt gãy, ghi nhận lực tối đa và kiểu nứt. Phân tích với kiểm định ANOVA trên SPSS 25 cho thấy giá trị lực nén của nhóm 1, 2, 3 tương đương nhau và cao nhất ở nhóm 4 (2272,88 N) (p = 0,003). Mức độ nghiêm trọng nứt gãy tăng khi số lượng thành còn lại của răng giảm. Các vết nứt gãy chủ yếu dọc theo phần tiếp xúc giữa chốt và composite hoặc giữa composite với cấu trúc còn lại thân răng.

9 Đặc điểm hình thái mọc của răng hàm lớn thứ ba hàm dưới trên lâm sàng và X-quang của người bệnh đến khám tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông / Lưu Văn Tường, Cao Đoàn Duy, Nguyễn Thị Hạnh, Trương Đình Khởi, Dương Đức Long, Phạm Lê Hương Linh, Nguyễn Thị Minh Huyền, Đinh Diệu Hồng // .- 2025 .- Tập 188 - Số 3 .- Tr. 25-32 .- 617

Nghiên cứu nhận xét đặc điểm lâm sàng, X-quang răng hàm lớn thứ ba hàm dưới của người bệnh đến khám tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông. Đối tượng là 115 răng hàm lớn thứ ba hàm dưới của người bệnh đến khám và điều trị tại Khoa Răng Hàm Mặt Bệnh viện Đa khoa Hà Đông từ tháng 11/2023 đến tháng 4/2024 với các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ. Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang với phương pháp chọn mẫu thuận tiện có chủ đích. Sau khi tiến hành khám và kiểm tra trên phim X-quang, đánh giá tình trạng mọc, vị trí trục răng hàm lớn thứ ba hàm dưới đối với răng hàm lớn thứ hai, độ sâu răng hàm lớn thứ ba hàm dưới so với mặt nhai răng hàm lớn thứ hai, tương quan răng hàm lớn thứ ba hàm dưới với khoảng rộng xương hàm.

10 Nhu cầu đào tạo nha khoa kỹ thuật số của bác sĩ răng hàm mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh / Nguyễn Hồ Quỳnh Anh, Trần Minh Huy, Bùi Vinh Quang, Phan Thị Thuỳ Trang, Trần Thiện Trường, Huỳnh Công Nhật Nam // .- 2025 .- Tập 187 - Số 6 .- Tr. 242-250 .- 617.6

Nghiên cứu này nhằm khảo sát nhu cầu đào tạo nha khoa kỹ thuật số trong thực hành phục hình răng của bác sĩ Răng Hàm Mặt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu cắt ngang mô tả từ 6/2023 đến 2/2024, khảo sát 120 bác sĩ Răng Hàm Mặt làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh bằng phiếu khảo sát trực tuyến gồm tình hình sử dụng, kiến thức, nhu cầu đào tạo nha khoa kỹ thuật số.