Phân tích áp lực hô hấp trên các sai hình xương sọ mặt khác nhau
Tác giả: Vũ Thị Thu Trang, Vũ Đình Việt Anh, Lê Đình Tùng, Đỗ Hoàng Việt, Trần Thị Bích Hòa, Nguyễn Thanh HuyềnTóm tắt:
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào mối liên hệ giữa hình thái đường thở và hình thái sọ mặt, nhấn mạnh nhiều hơn vào chiều trước–sau so với chiều dọc. Tuy nhiên, mối liên quan giữa các dạng sai hình xương và chức năng hô hấp vẫn chưa được làm rõ. Mặc dù các nghiên cứu ba chiều ghi nhận sự gia tăng kích thước đường thở sau điều trị chỉnh nha, những thay đổi hình thái không nhất thiết phản ánh cải thiện chức năng. Chức năng đường thở phụ thuộc vào sức cản luồng khí và hoạt động cơ hô hấp, trong đó áp lực hô hấp tối đa (RMS) là chỉ số quan trọng. Nghiên cứu này nhằm đánh giá RMS ở bệnh nhân có các dạng sai hình xương khác nhau và khảo sát mối liên quan với kích thước đường thở trên CBCT. RMS trong nghiên cứu này dùng để chỉ mức độ thay đổi áp lực dòng khí thu được từ mô phỏng CFD của đường thở trên, không phải sức mạnh cơ hô hấp (respiratory muscle strength) trong sinh lý hô hấp.Kết quả cho thấy RMS cao nhất ở nhóm hạng II (5,8 ± 5,5), tiếp theo là hạng I (4,6 ± 4,3) và thấp nhất ở hạng III (3,9 ± 3,0), với sự khác biệt có ý nghĩa giữa hạng II và hạng III. Những phát hiện này cho thấy sự khác biệt về chức năng hô hấp giữa các dạng sai hình xương, gợi ý rằng kết hợp đánh giá RMS và hình thái đường thở có thể hỗ trợ chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị chỉnh nha hiệu quả hơn.
- Kích thước lỗ cằm và lỗ cằm phụ trên phim CBCT ở người trưởng thành từ 18 - 30 tuổi tại Hà Nội
- Hình thái, kích thước lỗ lưỡi giữa và lỗ lưỡi bên xương hàm dưới trên phim CBCT ở người trung niên 45 - 59 tuổi
- Biến chứng trên mắt sau tiêm filler - báo cáo ca lâm sàng hiếm gặp và tổng quan y văn
- Liên quan giữa hình thái mọc và các biến chứng của răng khôn hàm dưới trên người bệnh tại Khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Hà Đông
- Độ bền kháng gãy của răng hàm nhỏ thứ nhất hàm trên đã điều trị nội nha được phục hồi bằng composite và chốt sợi





