CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Khoa học Xã Hội & Nhân Văn

  • Duyệt theo:
3751 Một số điểm mới về chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 / Võ Thị Kim Oanh, Trịnh Duy Thuyên // Khoa học Pháp lý .- 2016 .- Số 3 (97) .- Tr. 50 – 58 .- 345.597

Bàn luận một số điểm mới về chứng cứ: khái niệm chứng cứ, chủ thể thu thập chứng cứ, hình thức thu thập chứng cứ, nguồn gốc của chứng cứ trong các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 so với Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.

3752 Bàn về phương pháp giảng dạy và nghiên cứu thạc sĩ Luật / Đỗ Văn Đại // Khoa học Pháp lý .- 2016 .- Số 3 (97) .- Tr. 26 – 30 .- 340.071

Trình bày thực trạng cũng như đề xuất một số giải pháp liên quan đến những phương pháp giảng dạy chủ yếu hiện nay cũng như nội dung và cách thức triển khai môn Phương pháp nghiên cứu khoa học.

3753 Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương / Lê Thị Nam Giang // Khoa học Pháp lý .- 2016 .- Số 4 (98) .- Tr. 3 – 9 .- 346.04

Trình bày khái quát quy định về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ theo Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) và một số thách thức đối với Việt Nam khi thực hiện các cam kết trong Hiệp định TPP.

3754 Tên doanh nghiệp và khả năng xâm phạm quyền đối với tên doanh nghiệp nhìn từ góc độ luật sở hữu công nghiệp / Ngô Phương Trà // Khoa học Pháp lý .- 2016 .- Số 4 (98) .- Tr. 9 – 17 .- 346.04

Nêu những quy định về tên doanh nghiệp; Các đối tượng sở hữu công nghiệp (SHCN) có khả năng xâm phạm bởi tên doanh nghiệp; Thực trạng xâm phạm quyền SHCN của tên doanh nghiệp; Kinh nghiệm của một số nước về vấn đề tên doanh nghiệp; và đưa ra một số kiến nghị cho Việt Nam về tên doanh nghiệp.

3755 Vấn đề cấm tra tấn và việc hoàn thiện pháp luật thi hành án phạt tù / Nguyễn Quang Vũ, Lê Thị Anh Nga // .- 2016 .- Số 4 (98) .- Tr. 49 – 56 .- 342.02

Phân tích làm rõ khái niệm tra tấn, các đòi hỏi của việc phòng chống tra tấn theo Công ước về chống tra tấn, Hiến pháp năm 2013, pháp luật thi hành án phạt tù (THAPT) của Việt Nam và đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật THAPT từ góc nhìn của vấn đề cấm tra tấn.

3756 Những khía cạnh pháp lý của quá trình toàn cầu hóa và liên kết khu vực / Vũ Thanh Hà // Khoa học Pháp lý .- 2016 .- Số 4 (98) .- Tr. 65 - 71 .- 340

Nêu nội hàm chủ yếu của khái niệm toàn cầu hóa; Những nội dung cơ bản của khu vực hóa; Xu hướng phát triển của pháp luật quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và liên kết khu vực.

3757 Mô hình Tòa án Thương mại Quốc tế Singapore (SICC) – Kinh nghiệm tham khảo cho hệ thống Tòa án Việt Nam / Phan Hoài Nam // Khoa học Pháp lý .- 2016 .- Số 4 (98) .- Tr. 72 – 80 .- 341

Giới thiệu về cơ chế tài phán đặc thù của SICC, đồng thời phân tích những điểm đột phá trong tư duy pháp lý và định hướng phát triển hệ thống tư pháp của Singapore trong bối cảnh toàn cầu.

3758 Phát triển bền vững và hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài – Nhìn từ góc độ Luật và chính sách của Trung Quốc / Vũ Duy Cương // Khoa học Pháp lý .- 2016 .- Số 4 (99) .- Tr. 20 – 27 .- 346.597

Trình bày khái quát về “phát triển bền vững” trong quan hệ với đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Vài nét về hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Trung Quốc; Quy định về việc triển khai “Phát triển bền vững” trong hoạt động nước ngoài của Trung Quốc; Một số kiến nghị cho Việt Nam với tư cách quốc gia tiếp nhận đầu tư.

3759 Cộng đồng ASEAN 2015 hình thành và dấu ấn đóng góp của Việt Nam / PTT. BTBNG. Phạm Bình Minh // Nghiên cứu Quốc tế .- 2016 .- Số 2/2016 .- Tr. 7-17 .- 327

Điểm lại quá trình hình thành và phát triển của ASEAN sau gần nữa thế kỷ trên chặng đường lịch sử gần nữa thế kỷ ấy. Việt Nam tự hào với những dấu ấn đóng góp quan trọng vào thành công chung của ASEAN.

3760 Xác định “vùng biển trang chấp”: Cơ sở cho việc hợp tác khai thác chung tại Biển Đông / TS. Nguyễn Đăng Thắng // Nghiên cứu quốc tế .- 2016 .- Số 2/2016 .- Tr. 44-69 .- 327

Trình bày một cách tiếp cận về xác định “vùng biển tranh chấp” tại Biển Đông để phục vụ cho việc khai thác chung. Theo cách tiếp cận này, có một số câu hỏi mang tính chất pháp lý quốc tế, xung quanh các tranh chấp tại Biển Đông cần được trả lời trước khi xác định được “vùng biển tranh chấp”.