CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Khoa học Xã Hội & Nhân Văn
351 Động thái mới của châu Phi và Trung Đông trong cạnh tranh nước lớn: khởi đầu một thời kỳ bất ổn mới? / Lê Kim Sa // .- 2023 .- Số 09 (217) - Tháng 9 .- Tr. 11 – 19 .- 327
Cạnh tranh của các nước lớn đã từng được định hình với sự tích hợp các nỗ lực quân sự, kinh tế, công nghệ và ngoại giao. Tuy nhiên, tại Châu Phi và Trung Đông, những động thấy mới gần đây cho thấy điều này đang có những thay đổi đáng kể. Ở châu Phi, các quốc gia hậu thuộc địa vẫn chưa quên quá khứ đang ngày càng đảm nhận vị trí là một trong những cực chính của trật tự đa cực quốc tế. Từ lâu là đấu trường trung tâm của sự cạnh tranh giữa các cường quốc, Trung Đông có thể đại diện cho một điều gì đó mới mẻ. Kể từ sau Mùa xuân Arab, Trung Đông trải qua sự thay đổi chính trị đáng kể, và khi Mỹ giảm dần sự quan tâm của mình đối với khu vực này, “khoảng trống quyền lực” đã xuất hiện. Các quốc gia khác đã nhanh chóng lấp đầy khoảng trống do phương Tây rút khỏi khu vực. Bằng phương pháp tổng hợp, bài viết tập trung phân tích vào những động thái mới tại khu vực Châu Phi và Trung Đông, để từ đó đánh giá triển vọng khu vực và thế giới.
352 Hai mươi năm nghiên cứu châu Phi và Trung Đông / Kiều Thanh Nga // .- 2023 .- Số 09 (217) - Tháng 9 .- Tr. 20 – 28 .- 327
Bài viết là cảm xúc và tình yêu, là niềm tin và tư tưởng của cá nhân trong 20 năm nghiên cứu châu Phi - Trung Đông. Nghiên cứu châu Phi - Trung Đông sẽ tiếp tục và hội nhập vào khu vực rộng lớn hơn với cánh cửa mới mở ra một chân trời mới.
353 Chủ trương “đưa các mối quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu” trong tư duy đối ngoại của Việt Nam thời kỳ đổi mới / Trần Chí Trung // .- 2023 .- Quý 2+3 (133+134) .- Tr. 47 - 70 .- 327
Chủ trương “đưa các mối quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu” là một trong những đột phá quan trọng về tư duy đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, được đề ra chính thức từ Đại hội X (năm 2006), thể hiện rõ nét nhất qua việc Việt Nam đã xây dựng được mạng lưới 30 đối tác chiến lược, đối tác toàn diện. Bài viết làm rõ nguồn gốc của chủ trương đưa quan hệ đối ngoại đi vào chiều sâu thông qua phân tích quá trình phát triển tư duy đổi ngoại của Đảng từ thời kỳ đầu Đổi mới. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá thực tiễn triển khai chủ trương này và đề xuất một số giải pháp tiếp tục đưa quan hệ Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu hiệu quả, ổn định, bền vững trong bối cảnh mới.
354 Sức mạnh mềm của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế toàn diện / Dương Văn Quảng // .- 2023 .- Quý 2+3 (133+134) .- Tr. 29 - 46 .- 327
Sức mạnh mềm, theo Joseph Nye, là hành động của một quốc gia không mang tính trấn áp nhưng vẫn có khả năng tạo ra ảnh hưởng đối với những quyết định chính trị hệ trọng của các quốc gia khác. Ba nguồn chính tạo nên sức mạnh mềm là văn hóa, các giá trị chính trị, và các chính sách công, kể cả chính sách đối nội và chính sách đối ngoại. Văn hóa luôn là nhân tố quan trọng nhất tạo nên sức mạnh mềm của các quốc gia nói chung và của Việt Nam nói riêng. Sức mạnh mềm của Việt nam hiện nay bao gồm hệ giá trị văn hóa, vị trí địa - chiến lược, đường lối đối ngoại, và vị thế của Việt Nam.
355 Vụ việc tàu hướng dương hồng 10 xâm phạm vùng biển Việt Nam : nguyên nhân và hệ lụy quốc tế / Hoàng Thị Lan, Nguyễn Nam Dương // .- 2023 .- Quý 2+3 (133+134) .- Tr. 71 - 88 .- 327
Ngày 7/5/2023, nhóm tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 (HDH-10) của Trung Quốc bắt đầu xuất hiện trái phép trong vùng biển của Việt Nam và hiện diện liên tục trong 29 ngày (rời đi vào đêm 5/6/2023). So với các vụ việc gần đây như vụ tàu Hải Dương 8 (năm 2019), trong vụ HDH-10 lần này tàu Trung Quốc đã tiến sâu hơn vào vùng biển Việt Nam, có thời điểm HDH-10 chỉ cách đường cơ sở Việt Nam 47 hải lý. Với ý đồ biến vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam thành cái gọi là “khu vực chồng lấn” với yêu sách “Nam Hải chư đảo,” Trung Quốc đã xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng UNCLOS 1982, vi phạm tinh thần Tuyên bố DOC và Hiến chương Liên Hợp Quốc.
356 Trung Quốc quấy nhiễu các hoạt động dầu khí trên biển và phản ứng của Ma-Lai-Xi-a / Vũ Hải Đăng // .- 2023 .- Quý 2+3 (133+134) .- Tr. 89 - 112 .- 327
Bài viết phân tích, đánh giá phương thức Ma-lai-xi-a phản ứng trước sự quấy nhiễu của Trung Quốc đối với các hoạt động dầu khí trên biển của mình. Cụ thể, bài viết sẽ làm rõ thực trạng tàu Trung Quốc xâm nhập vùng biển Ma-lai-xi-a, yêu sách và quấy nhiễu các hoạt động dầu khí của Ma-lai-xi-a. Thông qua xem xét các biện pháp phản ứng của Ma-lai-xi-a đối với hoạt động của tàu Trung Quốc, từ phản ứng trên thực địa đến các phản ứng về mặt ngoại giao, chính trị, truyền thông, và của giới học giả, tác giả bài viết sẽ đưa ra lý giải về cách thức phản ứng của Ma-lai-xi-a cũng như đánh giá mức độ hiệu quả của cách phản ứng này.
357 Chương trình nghị sự phụ nữ, hòa bình và an ninh : lý luận và thực tiễn / Đặng Cẩm Tú // .- 2023 .- Quý 2+3 (133+134) .- Tr. 139 - 154 .- 327
Trong những năm gần đây, phụ nữ, hòa bình và an ninh đã trở thành một chương trình nghị sự toàn cầu, được chú trọng thúc đẩy, triển khai rộng khắp ở mọi cấp độ. Đây cũng là một trong những lĩnh vực Việt Nam có thể phát huy để thể hiện vai trò thành viên tích cực, chủ động, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đồng thời phục vụ các mục tiêu phát triển trong nước. Bài viết nhằm làm rõ chương trình nghị sự phụ nữ, hòa bình và an ninh từ góc độ lý luận và thực tiễn, qua đó gợi mở một số suy nghĩ về sự tham gia của Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả triển khai các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách của Nhà nước về phụ nữ trong phát triển bền vững, hội nhập quốc tế và nâng tầm đối ngoại đa phương thời gian tới.
358 Thỏa thuận toàn cầu về di cư hợp pháp, an toàn và trật tự, và việc thực hiện cam kết của Việt Nam / Phan Thị Minh Giang, Nguyễn Ngọc Hậu // .- 2023 .- Quý 2+3 (133+134) .- Tr. 155 - 176 .- 327
Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế sâu rộng, việc hiểu rõ Thỏa thuận trên cũng như đánh giá tình hình triển khai trên thực tế sẽ giúp xác định rõ hơn những vấn đề cần hoàn thiện trong công tác quản lý di cư quốc tế nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế, phát huy vai trò chủ động, tích cực của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác đa phương này, qua đó không ngừng nâng cao vị thế, uy tin quốc tế của đất nước.
359 Phát huy sức mạnh mềm Việt Nam trong công tác đối ngoại, góp phần triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại đại hội đảng lần thứ XIII / Nguyễn Hải Lưu, Nguyễn Hùng Sơn // .- 2023 .- Quý 2+3 (133+134) .- Tr. 177 - 198 .- 327
Phát huy sức mạnh mềm là một nội hàm quan trọng làm nên thành công của đối ngoại Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và sự nghiệp Đổi mới gần 40 năm qua. Thực hiện chủ trương “phát huy hiệu quả sức mạnh tổng hợp của đất nước kết hợp với sức mạnh của thời đại” của Đại hội Đảng lần thứ XIII, công tác đối ngoại, đặc biệt là đối ngoại đa phương, đã tận dụng hiệu quả việc phát huy sức mạnh mềm Việt Nam, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển và nâng cao vị thế, uy tín đất nước. Để tiếp tục triển khai thắng lợi mục tiêu của Đại hội Đảng lần thứ XIII, Việt Nam cần tiếp tục phát huy vai trò của sức mạnh mềm, đặc biệt là trong công tác đối ngoại, để nâng cao hơn nữa thế và lực đất nước, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2045.
360 Hoàn thiện hệ thống cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hướng tới xây dựng nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại / Trần Ngọc An // .- 2023 .- Quý 2+3 (133+134) .- Tr. 199 - 218 .- 327
Quá trình hình thành, phát triển của xã hội loài người và gia tăng tương tác giữa các cộng đồng, bộ lạc, quốc gia chứng kiến sự phát triển của hệ thống hình thái đại diện Nhà nước, từ các phái bộ có tính lâm thời, chủ yếu phục vụ mục đích chính trị, thành những cơ quan thường trú, có cơ cấu tổ chức, bộ máy, nhân sự được chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa với chức năng, nhiệm vụ đa dạng nhằm bảo vệ và thực thi lợi ích quốc gia bên ngoài lãnh thổ. Trong bài viết này, tác giả sẽ giới thiệu tổng quan về hệ thống các cơ quan đại diện (CQĐD) của Việt Nam ở nước ngoài, phân tích tác động của bối cảnh hiện nay đối với các CQĐD, từ đó đưa ra những đề xuất định hướng quá trình xây dựng chính sách phù hợp, nhằm đặt hệ thống CQĐD vào vị trí có thể đóng góp hiệu quả hơn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, cũng như xây dựng nền ngoại giao Việt Nam chuyên nghiệp, toàn diện, hiện đại.