CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Khoa học Xã Hội & Nhân Văn

  • Duyệt theo:
3061 Tư duy phản biện trong giáo dục ngôn ngữ / Nguyễn Văn Độ // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2017 .- Số 12(266) .- Tr. 3- 12 .- 400

Nêu lên các vấn đề về: Một số định nghĩa về khái niệm cụ thể của các nhà khoa học khác nhau; Các đặc trưng điển hình của của một người có tư duy phản biện được giới thiệu; Các hoạt động thực hành giúp đưa tư duy phản biện vào giờ học ngôn ngữ...

3062 Đa phương ngữ xã hội trong tiếng Hà Nội dưới ảnh hưởng của đô thị hóa / Trịnh Cẩm Lan // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2017 .- Số 12(266) .- Tr. 13- 21 .- 400

Bài viết cho thấy phía sau biểu hiện nông thôn hóa tiếng Hà Nội đô thị và đô thị hóa tiếng Hà Nội nông thôn trên bề mặt, là một xu thế chung – xu thế “đô thị hóa”. Tiếng Hà Nội sẽ dần mất đi sự đa dạng hôm nay để đi đến một sự thống nhất trong tương lai. Tất cả những bằng chứng được tổng hợp trong bài viết đều trực tiếp hoặc gián tiếp ủng hộ dự báo đó.

3063 Một hướng tiếp cận khác về trạng ngữ trong tiếng Việt / Nguyễn Thị Minh Trang // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2017 .- Số 12(266) .- Tr. 31- 36 .- 400

Làm sáng tỏ thêm một vài vấn đề còn tồn tại về tính chất, chức năng, dấu hiệu... và thử đưa ra các yếu tố cấu tạo, phân loại, và các hướng nghĩa của trạng ngữ.

3064 Sự không tuân thủ nguyên tắc cộng tác hội thoại qua một số truyện cười Việt Nam / Nguyễn Thị Minh Trang // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2017 .- Số 12(266) .- Tr. 80- 87 .- 400

Tìm hiểu một nguyên tắc chung mà các tác giả đều đề cập đến, đó là nguyên tắc cộng tác hội thoại và thể hiện sự vi phạm ( không tuân thủ) nguyên tắc hội thoại qua một số truyện cười Việt Nam.

3065 Nhịp điệu trong thơ Nguyễn Bính (trên cứ liệu thơ trước 1945) / Đỗ Anh Vũ // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2017 .- Số 12(266) .- Tr. 88- 97 .- 400

Chỉ ra những nét đặc sắc trong nhịp điệu thơ Nguyễn Bính qua hai thể thơ lục bát và thất ngôn. Theo đó, Nguyễn Bính ngoài sự kế thừa truyền thống đã có nhiều cách tân đổi mới trong việc tạo ra nhiều hình thức ngắt nhịp phong phú, mạnh dạn thay đổi số chữ trong các dòng thơ thất ngôn, đồng thời thể hiện nhiều nét tài hoa qua việc hòa thanh và gieo vần.

3066 Những vấn đề đặt ra trong công tác xây dựng chữ viết cho ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay / Nguyễn Hữu Hoành // Ngôn Ngữ & đời sống .- 2017 .- Số 12(266) .- Tr. 98- 104 .- 400

Trên cơ sở kinh nghiệm xây dựng chữ viết cho ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên thế giới, bài viết đề cập đến những vấn đề cơ bản, quan trọng cần phải được hết sức lưu ý khi tiến hành xây dựng chữ viết cho ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

3067 Vai trò của ngôn ngữ Thái trong phát triển bền vững vùng Tây Bắc / Vương Toàn // Ngôn ngữ .- 2017 .- Số 11(342) .- Tr. 11- 26 .- 400

Làm rõ những cơ sở để có thể khẳng định vai trò ngôn ngữ vùng của tiếng Thái trong quá trình phát triển bền vững vùng Tây Bắc.

3068 Ẩn dụ và vật dẫn ẩn dụ trong ngôn ngữ của giáo viên trên lớp học ( khảo sát ở bậc tiểu học) / Vương Toàn // Ngôn ngữ .- 2017 .- Số 11(342) .- Tr. 27- 38 .- 400

Trình bày kết quả nghiên cứu về ẩn dụ ngôn từ trong ngôn ngữ của giáo viên Tiểu học trong tương tác với học sinh trên lớp học. Tìm hiểu về vai trò và chức năng của ẩn dụ trong dạy và học, từ đó đưa ra những khuyến cáo đối với giáo viên trong việc sử dụng ngôn từ để dạy học.

3069 Một số vấn đề của thuật ngữ học tiếng Hàn / Hoàng Thị Yến – BAE YANG SOO // Ngôn ngữ .- 2017 .- Số 11(342) .- Tr. 38- 51 .- 400

Tổng hợp và khái quát về một số vấn đề của ngành Thuật ngữ học tiếng Hàn như: tình hình và hướng nghiên cứu, khái niệm và sự phân bố của thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, đặc điểm nguồn gốc và cấu tạo của thuật ngữ, vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ.

3070 Quan hệ tổng phân nghĩa của từ biểu hiện bộ phận cơ thể người thuộc khu vực thượng đình trong tiếng Thái ở Việt Nam ( có liên hệ với tiếng Việt) / Hà Thị Mai Thanh // Ngôn ngữ .- 2017 .- Số 11(342) .- Tr. 61- 74 .- 400

Miêu tả về quan hệ giữa từ chỉ “ tổng danh” và từ chỉ “phân danh” qua từ biểu hiện bộ phận cơ thể người trong tiếng Thái ở Việt Nam; Xác định những từ trong tiếng Thái là các ô trống trong tiếng Việt và ngược lại, những từ trong tiếng Việt là các ô trống trong tiếng Thái.