CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
9731 Lợi thế so sánh bộc lộ của Việt Nam và các nước ASEAN trong bối cảnh hội nhập quốc tế / Nguyễn Bình Dương // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 33-41 .- 332.1
Kể từ khi Việt Nam mở cửa kinh tế và tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam đã có sự thay đổi theo hướng tích cực, từ xuất khẩu các mặt hàng nguyên liệu thô, sơ chế sang các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Bài viết này nghiên cứu lợi thế so sánh bộc lộ (RCA) của Việt Nam và các nước ASEAN trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đồng thời phân tích sự thay đổi của chỉ số RCA trong 9 nhóm hàng cơ bản theo tiêu chuẩn SITC- Rev 3. Bên cạnh đó, bài viết cũng phân tích chỉ số RCA trong một số sản phẩm tiêu biểu như gạo, rau quả, cà phê, thủy sản, may mặc, giày dép. Thông qua việc phân tích cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của các ngành định hướng xuất khẩu, bài viết đề xuất một số giải pháp để Việt Nam củng cố hơn nữa những ngành có lợi thế truyền thống và khai thác được tiềm năng của những ngành có lợi thế trong tương lai.
9732 Phân tích tác động FDI đến phúc lợi xã hội: Dẫn chứng từ các quốc gia châu Á / Đinh Hồng Linh, Trần Văn Nguyện // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 42-51 .- 330.124
Tập trung làm rõ tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến phúc lợi xã hội tại các nước châu Á giai đoạn 1990 – 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phân bổ không đồng đều trong mối quan hệ giữa FDI và chỉ số phát triển con người (HDI) giữa các quốc gia. Trong đó, việc thu hút dòng vốn FDI cao không đảm bảo có sự tác động tích cực tới HDI của quốc gia đó. Hơn nữa, nghiên cứu của chúng tôi cung cấp bằng chứng về mối quan hệ ngược chiều giữa FDI với tăng trưởng trong phúc lợi xã hội, được đo lường thông qua chỉ tiêu HDI. Bên cạnh đó, thu hút FDI dù có tác động tiêu cực tới chỉ số về giáo dục, chỉ số thu nhập và chỉ số y tế của nhóm các quốc gia trong khu vực, nhưng các kết quả này không có ý nghĩa về mặt thống kê.
9733 Môi trường thể chế quốc gia và lợi tức cổ phiếu trong các thương vụ sáp nhập và mua lại : nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia Đông và Đông Nam Á / Hoàng Dương Việt Anh, Đặng Hữu Mẫn // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 52-61 .- 332.63
Nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường thể chế quốc gia đến lợi tức cổ phiếu của các doanh nghiệp mục tiêu trong hoạt động mua lại doanh nghiệp dựa trên một mẫu tất cả các thương vụ tại 8 nước Đông và Đông Nam Á, trong giai đoạn 14 năm từ 2000 đến 2013. Thông qua việc sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện và hồi quy chéo, bài báo cho thấy chất lượng điều hành của chính phủ, mức độ bảo vệ nhà đầu tư, mức độ tự do di chuyển vốn, thuế thu nhập doanh nghiệp và tỷ giá hối đoái là những yếu tố quyết định đến lợi tức của các công ty mục tiêu. Cụ thể, các cổ đông của các công ty mục tiêu có xu hướng nhận được lợi tức lớn hơn nếu các công ty mục tiêu hoạt động ở các quốc gia có chất lượng điều hành của chính phủ cao hơn, mức độ bảo vệ nhà đầu tư mạnh hơn, ít kiểm soát di chuyển vốn, thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn và giá trị tiền tệ cao hơn so với quốc gia của công ty thâu tóm. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò quan trọng của môi trường thể chế của quốc gia nhận đầu tư là một trong những yếu tố quyết định đến lợi tức cổ phiếu của công ty mục tiêu thay vì sự khác biệt trong môi trường thể chế giữa quốc gia tiếp nhận và quốc gia chủ đầu tư.
9734 Hoàn thiện chính sách chế biến sâu nông sản : nghiên cứu điển hình với các ngành hàng lúa gạo, cao su và cá tra / Trần Đình Thao, Nguyễn Phượng Lê, Đỗ Thị Diệp // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 62-71 .- 330
Chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng của nông sản là một chiến lược ưu tiên trong thực hiện tái cơ cấu nền nông nghiệp. Nghiên cứu điển hình ở các ngành hàng lúa gạo, cao su và cá tra cho thấy Chính phủ đã ban hành và thực hiện nhiều chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào chế biến nông sản như đất đai, tín dụng, đào tạo nhân lực, chuyển giao công nghệ và xúc tiến thương mại. Nhờ tác động tích cực của các chính sách này, tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của nước ta đã tăng đáng kể. Tuy nhiên, các chính sách trên chưa đủ mạnh để thúc đẩy chế biến nông sản, cụ thể là: (i) Chưa khuyến khích trực tiếp chế biến sâu nông sản; (ii) Nội dung khuyến khích chế biến nông sản còn chung chung; (iii) Chưa có sự thống nhất giữa chủ trương và giải pháp, chưa cân đối giữa mục tiêu và nguồn lực thực hiện. Do vậy, để thúc đẩy chế biến sâu nông sản, có cơ chế hỗ trợ đặc thù đối với người sản xuất.
9735 Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán tại Việt Nam / Phạm Quốc Việt, Lương Quốc Trọng Vinh, Hồ Thu Hoài // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 2 .- Tr. 72-80 .- 658
Quản trị công ty tại công ty chứng khoán là chủ đề còn rất ít được nghiên cứu tại Việt Nam. Thông qua phân tích hồi quy giữa các biến đại diện cho quản trị công ty và hiệu quả hoạt động trên mẫu dữ liệu 48 công ty chứng khoán giai đoạn 2012-2016, các tác giả tìm thấy tương quan âm giữa sở hữu cổ đông lớn với hiệu quả hoạt động, tương quan phi tuyến dạng chữ U giữa sở hữu của ban giám đốc với hiệu quả hoạt động, tác động của các yếu tố thuộc đặc điểm của hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động của các công ty chứng khoán tại Việt Nam. Các kết quả nghiên cứu này là cơ sở cho một số gợi ý chính sách cho Ủy ban chứng khoán Nhà nước trong việc hoàn thiện tuân thủ các nguyên tắc quản trị công ty của các công ty đại chúng hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán và tăng cường bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số tại các công ty chứng khoán niêm yết.
9736 Nâng cấp để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu : trường hợp các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam / Nguyễn Thị Trâm Anh, Huỳnh Thị Ngọc Diệp // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 02 .- Tr. 81-91 .- 658.8
Quá trình toàn cầu hóa đã tạo cơ hội mở cửa thị trường và tăng áp lực cạnh tranh cho doanh nghiệp ở các nước đang phát triển. Tham gia vào thương mại toàn cầu đòi hỏi các doanh nghiệp phải liên tục học hỏi, tiếp nhận công nghệ và hợp tác với các tác nhân trong chuỗi nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh và/hoặc chuyển sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn. Kết quả khảo sát 41 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu cá tra cho thấy: (1) chuỗi giá trị cá tra do người mua dẫn dắt; (2) phần lớn các doanh nghiệp chế biến cá tra chỉ mới nâng cấp quy trình; (3) hợp tác dọc trong chuỗi giá trị cá tra theo 2 xu hướng tích hợp dọc và sử dụng hợp đồng sản xuất. Trên cơ sở đó, tác giả khuyến nghị các doanh nghiệp cải thiện năng lực cạnh tranh để tham gia chuỗi giá trị toàn cầu: nâng cấp sản phẩm bằng cách hướng đến sản phẩm giá trị gia tăng và hoàn thiện chiến lược hợp tác dọc phía trước và phía sau.
9737 Tác động của đầu tư công đến một số khía cạnh kinh tế tỉnh Nam Định / Nguyễn Văn Hậu // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 248 tháng 02 .- Tr. 92-100 .- 332.63
Đánh giá tác động của đầu tư công đến một số vấn đề về kinh tế của tỉnh Nam Định trong giai đoạn 2000 - 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Đầu tư công tác động tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế của tỉnh Nam Định, hiệu quả của nguồn vốn còn thấp, đóng góp vào GDP của tỉnh chưa tương xứng với nguồn vốn bỏ ra, trong khi đó khu vực tư nhân có tác động tích cực lên tăng trưởng kinh tế, đóng góp nhiều vào GDP của tỉnh. Dựa trên cơ sở đánh giá tác động của đầu tư công, hy vọng những hàm ý về chính sách bài viết đề xuất giúp nâng cao hiệu quả đầu tư công của tỉnh Nam Định trong thời gian đến.
9738 Kinh tế Việt nam năm 2018 sẽ tăng trưởng trên nền tảng vững chắc hơn / TS.Cấn Văn Lực và nhóm nghiên cứu Trung tâm nghiên cứu BIDV // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2018 .- Số 3 +4 tháng 2 .- Tr. 34-34 .- 330
Đánh giá những kết quả đã đạt được trong năm 2017, tồn tại, hạn chế cần phải vượt qua và đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm giúp Việt Nam tăng trưởng bền vưng hơn trong năm 2018 và những năm tiếp theo.
9739 Nhiều cải thiện cho khu vực ngân hàng năm 2018 / ThS.Phạm Xuân Hòe // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2018 .- Số 3 +4 tháng 2 .- Tr. 35-37 .- 332.12
Định hưởng điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) năm 2018 của ngân hàng Nhà nước là tiếp tục điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra. Năm 2018 tiếp tục là năm môi trường chính sách cho hoạt động kinh doanh của TCTD có sự ổn định và nhiều thuận lợi. Bên cạnh những nội dung trên, bài viết còn đưa ra một số xu hướng mới của ngành công nghiệp tài chính trong năm 2018.
9740 Phân tích nguyên nhân và tác động của điều hành ổn định tỷ giá năm 2017 và dự báo năm 2018 / TS. Nguyễn Thị Trúc Phương // Thị trường tài chính tiền tệ .- 2018 .- Số 3 +4 tháng 2 .- Tr. 38-41 .- 332.4
Tổng quan về diễn biến tỷ giá năm 2017, phân tích nguyên nhân và tác động của điều hành ổn định tỷ giá năm 2017, đồng thời dự báo diễn biến tỷ giá và triển vọng thị trường ngoại hối năm 2018.





