CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
8991 Thực hành quản lý trong doanh nghiệp thương mại và dịch vụ tại Thành phố Cần Thơ / Nguyễn Tuấn Kiệt, Trịnh Công Đức // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 255 tháng 09 .- Tr. 81-92 .- 658

Bài viết sử dụng phương pháp định lượng, do Bloom & Van Reenen (2007) phát triển, để nghiên cứu thực hành quản lý trong doanh nghiệp vừa và nhỏ hoạt động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ tại Thành phố Cần Thơ. Kết quả cho thấy doanh nghiệp có điểm thực hành quản lý trung bình rất thấp trong hoạt động giám sát, thiết lập mục tiêu và khuyến khích nhân lực. Kết quả cũng tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa thực hành quản lý và năng suất của doanh nghiệp và thực hành quản lý của doanh nghiệp phụ thuộc vào yếu tố cạnh tranh, sự phân quyền, nguồn vốn nhân lực và quy mô lao động.

8992 Một số vấn đề trong chuỗi cung ứng rau an toàn ở đô thị Việt Nam − Kết quả từ phân tích chuỗi giá trị rau tại Đà Nẵng / Lê Thị Minh Hằng // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 255 tháng 09 .- Tr. 93-102 .- 658.8 12

Thực phẩm an toàn là nỗi lo thường trực của mọi người dân Việt Nam. Những năm qua, Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng rau an toàn, nhưng kết quả còn khiêm tốn. Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng kĩ thuật phân tích chuỗi giá trị do Tổ chức Phát triển Quốc tế của Anh (DFID) công bố năm 2008 (Making Markets Work Better for the Poor - M4P & DFID, 2008), để phân tích định tính và định lượng chuỗi cung ứng rau tại Đà Nẵng. Nghiên cứu đã mô tả được trạng thái chuỗi cung ứng rau ở Đà Nẵng; nhận diện và mô tả vai trò của các chủ thể trong chuỗi; nhận diện được thế yếu của nông hộ và vai trò quan trọng của hợp tác xã, tổ hợp tác, doanh nghiệp trong chuỗi rau an toàn; phân tích định lượng giá trị mà chuỗi cung ứng rau đem lại cho mỗi mắt xích và nhận diện được vấn đề cơ bản ngăn cản sự phát triển của chuỗi cung ứng rau an toàn, đó chính là giá trị mà các chủ thể nhận được trong chuỗi rau an toàn thấp hơn so với chuỗi rau thông thường.

8993 Đo lường rủi ro Quốc gia bằng mô hình quyền chọn - Đánh giá hiệu quả và dự báo / Hồ Hồng Hải, Trần Duy Long // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 256 tháng 10 .- Tr. 21-31 .- 658.15

Mô hình quyền chọn đã được ứng dụng để đo lường rủi ro tín dụng ở cấp độ doanh nghiệp nhưng ứng dụng tương tự trên quy mô quốc gia còn nhiều hạn chế, đặc biệt là đối với những thị trường tài chính còn non trẻ. Nghiên cứu này là một trong những công trình đầu tiên đánh giá độ tin cậy của phương pháp đo lường rủi ro quốc gia bằng mô hình quyền chọn (Contingent Claims Analysis – CCA) tại Đông Nam Á. Kết quả cho thấy kết quả của mô hình CCA phản ánh sát rủi ro quốc gia trong khoảng thời gian dài, đồng thời có thể đưa ra những dự báo định lượng về rủi ro vỡ nợ của một quốc gia trong ngắn hạn.

8994 Khoảng cách quốc gia ảnh hưởng như thế nào đến thâm nhập tài sản địa phương của công ty đa quốc gia tại Việt Nam? / Võ Văn Dứt // Kinh tế & phát triển .- 2018 .- Số 256 tháng 10 .- Tr. 32-41 .- 658

Mục tiêu của bài viết này là ước lượng các yếu tố khoảng cách quốc gia ảnh hưởng như thế nào đến thâm nhập tài sản địa phương của công ty đa quốc gia tại Việt Nam. Nghiên cứu giả thuyết rằng, khoảng cách văn hóa, thể chế, và kinh tế có ảnh hưởng nghịch biến đến thâm nhập tài sản địa phương của các công ty đa quốc gia. Sử dụng dữ liệu từ Ngân hàng thế giới điều tra các công ty con thuộc các công ty đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam và hồi quy tuyến tính để kiểm định các giả thuyết. Kết quả cho thấy rằng, khoảng cách văn hóa, thể chế giữa nước đầu tư và Việt Nam càng lớn thì việc thâm nhập tài sản địa phương của công ty đa quốc gia tại Việt Nam càng bị cản trở. Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng thực nghiệm nào cho tác động của khoảng cách kinh tế đến thâm nhập tài sản địa phương. Một vài hàm ý quản trị cũng được đề nghị trong bài viết này.

8995 Mối quan hệ giữa chất lượng website, ấn tượng thương hiệu, chất lượng cảm nhận và lòng trung thành thương hiệu trong lĩnh vực ngân hàng / TS. Nguyễn Quốc Nghi // Ngân hàng .- 2018 .- Số 20 tháng 10 .- Tr. 32-37 .- 658.827

Khám phá mối quan hệ giữa chất lượng website, ấn tượng thương hiệu, chất lượng cảm nhận và lòng trung thành thương hiệu trong lĩnh vực ngân hàng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thấp theo phương pháp phỏng vấn trực tiếp 225 khách hàng có giao dịch trực tuyến với hệ thống ngân hàng thông qua website. Ứng dụng phương pháp PLS-SEM, kết quản nghiên cứu cho thấy, chất lượng website tác động tích cực đến ấn tượng thương hiệu và chất lượng cảm nhận.

8996 Hoạt động gọi vốn tài trợ khởi nghiệp từ cộng đồng: tiếp cận từ lý thuyết marketing quan hệ / Hà Kiên Tân, Nguyễn Quang Thu, Trần Thế Hoàng, Nguyễn Hoàng Sơn // Phát triển kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 29(5) tháng 5 .- Tr. 5-22 .- 658.8

Nghiên cứu này kiểm định tài trợ vốn khởi nghiệp từ cộng đồng mạng (crowdfunding) bằng lý thuyết marketing quan hệ. Kết quả phân tích từ 1375 phiếu khảo sát bằng công cụ PLS-SEM cho thấy các mối hệ giữa lợi ích từ hợp tác, chia sẻ giá trị, sự tương tác giữa nhà khởi nghiệp và nhà tài trợ vốn, niềm tin và ý định tài trợ vốn trên crowdfunding đều có ý nghĩa thống kê. Đặc biệt yếu tố niềm tin có tác động rất mạnh đến ý định tài trợ vốn, đồng thời sự tương tác giữa nhà khởi nghiệp và nhà tài trợ vốn cũng có tác động mạnh đến niềm tin.

8997 Ảnh hưởng của niềm tin, thái độ, quy chuẩn đến ý định mua thịt lợn của người tiêu dùng tại TP.HCM / Nguyễn Kim Nam & Ngô Quang Huâ // Phát triển kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 29(5) tháng 5 .- Tr. 68-84 .- 658.4

Nghiên cứu xem xét ảnh hưởng của niềm tin đến ý định mua thịt lợn của người tiêu dùng dựa trên lý thuyết hành động hợp lý (TRA). Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) được sử dụng để phân tích dữ liệu trong hai tình huống: bình thường và xảy ra lo ngại về thực phẩm. Mẫu nghiên cứu được khảo sát từ 249 người tiêu dùng tại TP.HCM. Kết quả cho thấy niềm tin chung ảnh hưởng tích cực đến niềm tin vào nguồn thông tin, thái độ và quy chuẩn chủ quan. Trong tình huống bình thường, chỉ có thái độ ảnh hưởng tích cực đến ý định. Trong tình huống xảy ra lo ngại về thực phẩm thì thái độ, quy chuẩn chủ quan, niềm tin vào nguồn thông tin chuỗi cung ứng ảnh hưởng tích cực đến ý định. Kết quả hàm ý cho nhà quản trị về vai trò của niềm tin chung và niềm tin vào nguồn thông tin từ chuỗi cung ứng trong việc giải thích ý định mua của người tiêu dùng. Ngoài ra, kết quả cũng cung cấp cho các cơ quan quản lý biết được những nguồn thông tin nào được người tiêu dùng tin tưởng nhất khi xảy ra sự lo ngại về thực phẩm.

8998 Quản lý tài chính cá nhân và quản lý gia sản ở Việt Nam / PGS.TS. Nguyễn Thanh Hương // Ngân hàng .- 2018 .- Số 19 tháng 10 .- Tr. 31-36 .- 658.15

Giới thiệu sơ lược về quản lý tài chính cá nhân, quản lý gia sản, thực trạng quản lý tài chính cá nhân và quản lý gia sản ở Việt Nam; đánh giá các hạn chế và đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động này ở Việt Nam.

8999 Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Định - góc nhìn từ quản lý / PGS.TS. Trần Thị Cẩm Thanh, TS. Nguyễn Ngọc Tiến // Kế toán & Kiểm toán .- 2018 .- Số 180 tháng 09 .- Tr. 7-10 .- 658

Phân tích về hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bình Định từ góc nhìn quản lý, dựa trên các kết quả kiểm chứng từ việc phát phiếu khảo sát và phỏng vấn sâu. Để qua đó, đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc đánh giá KHKD đối với các DNNVV trên địa bàn tỉnh Bình Định từ góc nhìn quản lý.

9000 Cơ cấu hội đồng quản trị, kỷ luật thị trường có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên? Bằng chứng từ các ngân hàng thương mại Việt Nam / Nguyễn Công Phương, Nguyễn Thị Hà My // Phát triển kinh tế - Jabes .- 2018 .- Số 29(6) tháng 6 .- Tr. 27-44 .- 658

Nghiên cứu này nhằm kiểm chứng ảnh hưởng của cơ cấu hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Dựa vào cách tiếp cận chứng thực, phương pháp nghiên cứu định lượng, nghiên cứu kết hợp đo lường mức độ công bố thông tin và mô hình hồi quy để đánh giá ảnh hưởng của cơ cấu hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của 33 ngân hàng trong giai đoạn từ năm 2012 đến 2014. Kết quả phân tích cho thấy mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các ngân hàng không cao; các yếu tố cơ cấu hội đồng quản trị và kỷ luật thị trường không có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các ngân hàng. Kết quả này ngụ ý một số vấn đề lưu ý khi sử dụng các biến này để đo lường trong các nghiên cứu có liên quan trong tương lai.