CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
8611 Các yếu tố quyết định đến hành vi chia sẻ tri thức của nhân viên trong các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam / Nhâm Phong Tuân, Đinh Văn Toàn, Nguyễn Anh Hào, Nguyễn Thị Tuyết Mai, Trần Hoài Nam // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 261 .- Tr. 30-39 .- 658
Việc thúc đẩy hành vi chia sẻ tri thức của các nhân viên trong doanh nghiệp là cần thiết trong việc nâng cao năng suất và hiệu quả hoạt động. Kế thừa mô hình của Burgess (2005), nghiên cứu này đánh giá ảnh hưởng của động lực cấp cá nhân, cấp giữa các cá nhân và cấp quan hệ tới thái độ chia sẻ tri thức, và ảnh hưởng của thái độ chia sẻ tri thức tới ý định chia sẻ tri thức. Dữ liệu được thu thập từ 391 bản trả lời của nhân viên đang làm việc trong 4 công ty viễn thông lớn nhất tại Việt Nam. Thông qua phân tích hồi quy, kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về đãi ngộ, sự ảnh hưởng và lợi ích xã hội có tác động tích cực tới thái độ chia sẻ tri thức. Trong khi đó, nhận thức về rủi ro có ảnh hưởng tiêu cực tới thái độ chia sẻ tri thức, thái độ chia sẻ tri thức có ảnh hưởng tích cực tới ý định chia sẻ tri thức. Nghiên cứu cũng đưa ra một số gợi ý hữu ích cho các bên liên quan.
8612 Động cơ và kết quả của hành vi mua sắm trên mạng xã hội trực tuyến tại Việt Nam / Nguyễn Hữu Khôi, Hồ Huy Tựu, Lê Nhật Hạnh // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 261 .- Tr. 40-49 .- 658
Mua sắm trên mạng xã hội trực tuyến là một khuynh hướng mua sắm mới, mang đến một môi trường kinh doanh đáng quan tâm để khám phá các vấn đề tâm lý người tiêu dùng như động cơ, hành vi và kết quả. Nghiên cứu này nhằm xem xét một cách hệ thống các loại động cơ (tiện ích, tiêu khiển và xã hội) và các hình thái của sự hài lòng (về mặt nhận thức và tình cảm) cũng như mối quan hệ động cơ – hành vi – hài lòng trong bối cảnh mua sắm xã hội trực tuyến. Kết quả chính của nghiên cứu cho thấy, động cơ xã hội có tác động lớn nhất tới hành vi mua sắm xã hội trực tuyến, sau đó là động cơ tiện ích, và cuối cùng là động cơ tiêu khiển. Hành vi mua sắm xã hội trực tuyến dẫn tới cả sự hài lòng về mặt nhận thức và tình cảm, trong đó kết quả hài lòng về mặt nhận thức cao hơn. Vì vậy, nghiên cứu này đóng góp vào kiến thức chung bằng việc mở rộng hiểu biết trước đây về mối quan hệ động cơ – hành vi – hài lòng của người tiêu dùng trong bối cảnh mua sắm xã hội trực tuyến. Đồng thời, nghiên cứu cung cấp một số hàm ý cho nhà quản trị để phát triển chiến lược marketing hiệu quả.
8613 Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đến ý định ở lại và vai trò trung gian của sự hài lòng / Trần Thị Ái Cẩm // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 261 .- Tr. 50-60 .- 658
Bài báo này nghiên cứu tác động của văn hóa tổ chức đến ý định ở lại của nhân viên và vai trò trung gian của sự hài lòng. Phương pháp nghiên cứu định lượng với 600 mẫu những người đang làm việc cho 25 công ty Công nghệ thông tin ở Việt Nam. Bảng câu hỏi khảo sát được thực hiện giữa tháng 5 đến tháng 7 năm 2017. Kết quả chỉ ra rằng sự hài lòng trong công việc đóng vai trò trung gian giữa các mối quan hệ văn hóa tập thể, văn hóa phân cấp và văn hóa thị trường đến ý định ở lại của nhân viên. Ngược lại, mối quan hệ giữa văn hóa sáng tạo với ý định ở lại không có ý nghĩa thống kê. Dựa vào kết quả nghiên cứu này, bài báo có đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn cho các nhà quản trị và những nghiên cứu trong tương lai.
8614 Phân tích và bản đồ hóa các chỉ số đánh giá mức độ dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu: Trường hợp nghiên cứu ở Huyện Minh Hóa, Tỉnh Quảng Bình / Nguyễn Đức Kiên // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 261 .- Tr. 61-71 .- 363
Biến đổi khí hậu có xu hướng ngày càng nghiêm trọng trong những năm gần đây ở huyện Minh Hóa. Nghiên cứu này xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá mức độ dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu dựa vào khung lý thuyết của IPCC nhằm chỉ ra các khu vực có thể chịu tác động mạnh để xác định mức độ ưu tiên khi can thiệp. Kết quả chỉ ra rằng mức độ phơi nhiễm có xu hướng tăng lên; Đa số các xã thể hiện xu hướng giảm về mức độ nhạy cảm; Khả năng thích ứng của các xã có xu hướng được cải thiện nhưng không nhiều. Tính dễ bị tổn thương có xu hướng giảm theo thời gian nhưng vẫn còn ở mức cao. Điều này kết hợp với tỷ lệ hộ nghèo cao và điều kiện hạ tầng khó khăn làm cho nguy cơ bị tác động càng trở nên lớn hơn. Đặc biệt, các xã Tân Hóa, Thượng Hóa, Hóa Sơn là những khu vực cần ưu tiên hỗ trợ người dân địa phương tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu.
8615 Hiệu quả sử dụng đầu vào trong nuôi trồng thủy sản: Trường hợp nghề nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại Tỉnh Phú Yên / Lê Kim Long, Lê Văn Tháp // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 261 .- Tr. 72-80 .- 330
Bài báo này trình bày tóm lược nền tảng lý thuyết kinh tế về hiệu quả sử dụng các đầu vào trong sản xuất theo khái niệm hiệu quả Pareto-Koopmans và áp dụng mô hình phân tích bao dữ liệu (DEA) hai giai đoạn để ước lượng các chỉ số này cho các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh tại tỉnh Phú Yên trong năm sản xuất 2014. Kết quả cho thấy hiệu quả sử dụng các đầu vào là: thức ăn (89%), lao động (82%), con giống (81%), năng lượng (77%) và thuốc, kháng sinh và hóa chất (69%). Đây là bằng chứng thực nghiệm cho thấy việc sử dụng thuốc, hóa chất và kháng sinh là đáng báo động trong nghề nuôi tôm thẻ thâm canh. Để nghề nuôi tôm ở Phú Yên phát triển bền vững cần: (i) tăng cường khuyến cáo và hướng dẫn kỹ thuật nuôi sử dụng thuốc, hóa chất và kháng sinh đúng cách; (ii) xây dựng hệ thống xả và xử lý thải tập trung. Bên cạnh đó, Phú Yên nên khuyến cáo các hộ nuôi tôm thẻ chân trắng nên nuôi với mật độ thấp. Các chính sách để phát triển nghề nuôi tôm thâm canh theo hướng doanh nghiệp hóa cần được khuyến khích.
8616 Nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán môi trường: Trường hợp nghiên cứu tại các công ty khai khoáng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Nguyễn La Soa, Nguyễn Thị Kim Hướng, Trần Thị Thu Huyền // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 261 .- Tr. 81-90 .- 658
Nghiên cứu này nhằm đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán môi trường. Dữ liệu được thu thập từ 57 công ty khai khoáng niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ 2013 đến 2017. Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng nhằm khám phá các nhân tố ảnh hưởng và đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến công bố thông tin kế toán môi trường. Kết quả cho thấy mức độ công bố thông tin kế toán môi trường chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: Khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, qui mô doanh nghiệp, số năm niêm yết và kiểm toán độc lập. Từ đó, nhóm tác giả đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán môi trường cho các công ty khai khoáng Việt Nam, tăng khả năng cạnh tranh cho công ty trong điều kiện hội nhập toàn cầu.
8617 Việc làm phi nông nghiệp và tăng trưởng thu nhập hộ gia đình nông thôn Việt Nam / Vũ Văn Hùng // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 261 .- Tr. 91-98 .- 330
Sử dụng bộ dữ liệu mảng cân bằng từ các điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2014 và 2016, nghiên cứu này đã đánh giá tác động của việc làm phi nông nghiệp tới tăng trưởng thu nhập hộ. Nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng mới rằng việc có tham gia và mức độ tham gia vào các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp (việc làm công ăn lương hay phi nông nghiệp tự làm) đều có tác động dương tới tăng trưởng thu nhập hộ gia đình nông thôn Việt Nam. Hàm ý chính sách rút ra từ nghiên cứu là trong bối cảnh đất nông nghiệp ngày càng hạn hẹp và dân số tăng nhanh thì gia tăng cơ hội việc làm phi nông nghiệp cho nông hộ cần coi là giải pháp chính cho nâng cao mức sống dân cư nông thôn ở Việt Nam.
8618 Cần bổ sung “Quyền được chết” vào trong bộ luật dân sự năm 2015 / Nguyễn Vinh Hưng // Khoa học pháp lý .- 2018 .- Số 9 (121) .- Tr. 44 – 48 .- 340
“Quyền được chết” là một quyền rất mới và có tác động, ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội. Mặc dù trước đây “ quyền được chết” chưa từng được pháp luật thừa nhận, thế nhưng xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi của xã hội nên hiện nay, khá nhiều quốc gia trên thế giới đã nhìn nhận lại vấn đề này và đã có một số quốc gia thừa nhận quyền này. Còn tại Việt Nam, hiện vẫn đang tồn tại khá nhiều tranh luận xung quanh vấn đề có nên thừa nhận “quyền được chết” hay không.
8619 Hàng nông sản Việt Nam trong cuộc chiến với rào cản thương mại quốc tế: thực tế và giải pháp / Phạm Vĩnh Thắng // Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (Điện tử) .- 2018 .- Số 518 .- Tr. 7-9 .- 658
Do nhiều nguyên nhân, các nước đều duy trì các biện pháp thương mại nhằm bảo hộ nền sản xuất nội địa. Bên cạnh biện pháp bảo hộ bằng thuế quan còn rất nhiều biện pháp thuế quan. Xu hướng chung trong việc sử dụng các biện pháp phi thuế quan để bảo hộ sản xuất trong bước là chuyển từ các biện pháp mang tính chất hạn chế định lượng trực tiếp sang các biện pháp tinh vi hơn như chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ, tiêu chuẩn kỹ thuật. Ngoài ra, xu hướng sử dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu gắn với yêu cầu tuân thủ các tiêu chuẩn môi trường và lao động đang nổi lên và được nhiều nước phát triển hậu thuẫn mạnh mẽ.
8620 Các nghiên cứu về lý thuyết hành vi có kế hoạch ảnh hưởng đến ý định mua hàng của người tiêu dùng / Lê Thị Hải Hà // Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (Điện tử) .- 2018 .- Số 518 .- Tr. 99-101 .- 658
Lý thuyết hành vi có kế hoạch là một lý thuyết marketing được sử dụng rất phổ biến trong nghiên cứu ý định mua hàng. Trên cơ sở đó, tác giả thực hiện nghiên cứu tổng quan nhằm tổng kết lại những nghiên cứu điển hình vận dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch ảnh hưởng ý định mua hàng nội địa, hàng ngoại nhập cảu người tiêu dùng trên thế giới.





