CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
7581 Mức sẵn lòng trả phí bảo hiểm cho sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang / Nguyễn Văn Tạc, Nguyễn Tri Khiêm // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 269 .- Tr. 72-81 .- 658

Nghiên cứu nhằm mục tiêu ước lượng mức phí sẵn lòng trả (WTP) của nông hộ trồng lúa ở tỉnh Hậu Giang cho kịch bản bảo hiểm cây lúa do rủi ro về thời tiết, khí hậu và bệnh dịch gây ra bằng phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) tham số dưới dạng lựa chọn nhị phân kép (DBDC). Bên cạnh đó, nghiên cứu còn xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chi trả tham gia bảo hiểm cây lúa của nông hộ. Số liệu trong bài viết được thu thập từ phỏng vấn trực tiếp 138 nông hộ trồng lúa ở tỉnh Hậu Giang trong tháng 11 năm 2018. Thực tế có khoảng 60% trong số hộ phỏng vấn sẵn lòng chi trả khi được hỏi mức giá đầu tiên và từ kết quả mô hình hồi quy cho thấy WTP trung bình là 83.500đ/1000m2/vụ. Các yếu tố ảnh hưởng đến WTP gồm số thành viên phi nông nghiệp, vay vốn, chi phí sản xuất lúa trung bình trên 1000m2 và lịch sử từng bị thiệt hại của nông hộ.

7582 Mức độ tuân thủ trong công bố thông tin lợi thế thương mại trên báo cáo tài chính hợp nhất của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Đoàn Thị Hồng Nhung // Kinh tế & phát triển .- 2019 .- Số 269 .- Tr. 82-92 .- 658

Những công ty tuân thủ các yêu cầu của chuẩn mực kế toán tạo ra thông tin tài chính chất lượng cao để giúp người sử dụng báo cáo tài chính đưa ra quyết định kinh tế phù hợp (Trần Mạnh Dũng, 2014). Do đó, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá mức độ tuân thủ trong công bố thông tin lợi thế thương mại và sự biến động của mức độ tuân thủ trong công bố thông tin lợi thế thương mại của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Dữ liệu thông tin lợi thế thương mại được thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất của 35 công ty trong 8 năm liên tiếp từ năm 2010 đến năm 2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tuân thủ trong công bố thông tin lợi thế thương mại của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam còn thấp nhưng có sự cải thiện theo chiều hướng tích cực. Điều này chứng tỏ các công ty ngày càng chú trọng hơn vào việc công bố thông tin về lợi thế thương mại, đồng thời kinh nghiệm và trình độ của các kế toán viên về lợi thế thương mại ngày càng được nâng cao.

7583 Thực trạng ngân sách nhà nước và một số khuyến nghị / Hồ Ngọc Tú // Ngân hàng .- 2019 .- Số 22 .- Tr. 2-6 .- 332.1

Bài viết đưa ra các đánh giá về thực trạng thu, chi, bội chi ngân sách nhà nước và nợ công và từ đó đưa ra các khuyến nghị cho Việt Nam.

7584 Đo lường mức độ cạnh tranh của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam / Lê Anh Tuấn // Ngân hàng .- 2019 .- Số 22 .- Tr. 11-18 .- 332.12

Trình bày tổng quan về đo lường mức độ cạnh tranh; hệ thống ngân hàng thương mại VN; dữ liệu và mô hình nghiên cứu; kết quả nghiên cứu; Kết luận và kiến nghị.

7585 Xây dựng và triển khai hệ thống đánh giá tính tổn thương và rủi ro khủng hoảng tài chính tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam / Nguyễn Vĩnh Hưng, Phan Minh Anh // Ngân hàng .- 2020 .- Số 1+2 .- Tr. 20-26 .- 332.12

Tổng quan về hệ thống đánh giá tính tổn thương và rủi ro khủng hoảng; phương pháp xây dựng hệ thống đánh giá tính tổn thương và rủi ro khủng hoảng; thực trạng xây dựng và phát triển hệ thống đánh giá tính tổn thương và rủi ro khủng hoảng tại Ngân hàng Nhà nước; Đề xuất xây dựng và phát triển hệ thống đánh giá tính tổn thương và rủi ro khủng hoảng tại Ngân hàng Nhà nước.

7586 Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về ngoại hối : 5 năm một chặng đường / Nguyễn Ngọc Cảnh // Ngân hàng .- 2020 .- Số 1+2 .- Tr. 37-40 .- 332.45

Trình bày những thành tựu đạt được trong công tác quản lý ngoại hối; Một số giải pháp tăng cường hiệu quả quản lý ngoại hối nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

7587 Những tác động và xu hướng phát triển của hoạt động ngân hàng trong tiến trình của cuộc CMCN 4.0 / Đào Minh Phúc // Ngân hàng .- 2020 .- Số 1+2 .- Tr. 84-91 .- 332.12

Trình bày hệ thống tài chính ngân hàng thế giới với Cách mạng công nghiệp 4.0; Ngân hàng Việt Nam thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

7588 Những xu hướng mới trong hoạt động kinh doanh ngân hàng và vấn đề đặt ra với các ngân hàng thương mại Việt Nam / Nguyễn Thị Hòa // Ngân hàng .- 2020 .- Số 1+2 .- Tr. 92-97 .- 332.12

Những xu hướng mới trong mô hình kinh doanh ngân hàng; Những xu hướng mới trong hệ thống ngân hàng Việt Nam 10 năm gần đây; Những vấn đề đang đặt ra với các ngân hàng thương mại Việt Nam.

7589 Sử dụng dữ liệu thay thế trong chấm điểm tín dụng : hướng đi mới cho các tổ chức tín dụng / Nguyễn Thị Hiền, Phạm Hà Phương // Ngân hàng .- 2020 .- Số 1+2 .- Tr. 98-103 .- 332.1

Giới thiệu tổng quan về khái niệm mới này. Đồng thời, trên cơ sở đánh giá sơ bộ hoạt động thu thập thông tin và chấm điểm tín dụng cho khách hàng cá nhân tại các tổ chức tín dụng Việt Nam hiện nay, đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động này nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của các TCTD; trong đó có việc sử dụng dữ liệu thay thế.

7590 Bất bình đẳng thu nhập trong chủ nghĩa tư bản – Lý thuyết và thực tiễn / Phan Văn Phúc // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2019 .- Số 2 .- Tr. 67-84 .- 330

Bài viết phân tích những quan điểm nổi bật về bất bình đẳng và diễn biến xu hướng bất bình đẳng trong chủ nghĩa tư bản. Karl Marx phê phán chủ nghĩa tư bản là một cơ chế không ngừng tạo ra bất bình đẳng dựa trên quyền sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Trái ngược với quan điểm của Marx, Simon Kuznets đưa ra một bức tranh lạc quan cho sự vận động của bất bình đẳng: Các nước phát triển sẽ có mức bất bình đẳng giảm dần. Tuy nhiên, số liệu thống kê không ủng hộ quan điểm này. Theo Thomas Piketty, bất bình đẳng có xu hướng tăng do có sự chênh lệch giữa gia tăng thu nhập của tư bản so với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân. Giải pháp chủ yếu để giảm bất bình đẳng là sự can thiệp có hiệu quả của nhà nước vào quá trình phân phối và cải thiện các chính sách an sinh xã hội. Thực trạng thu nhập của các nước tư bản phát triển đã cho thấy bức tranh đa chiều về bất bình đẳng. Điều này có thể lý giải từ sự gia tăng vai trò của nhà nước với tư cách là người điều phối thu nhập.