CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
7541 Ảnh hưởng của rủi ro đến tiền lương, tiền công của hộ gia đình nông thôn Việt Nam / Nguyễn Thị Mai, Hạ Thị Thiều Dao // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 272 .- Tr. 32-41 .- 658

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu rút trích từ bộ dữ liệu Điều tra Tiếp cận Nguồn lực của Hộ gia đình được khảo sát các năm 2008, 2010, 2012, 2014, 2016 gồm 1.872 hộ gia đình nông thôn Việt Nam. Thông qua mô hình hồi quy hiệu ứng cố định cùng với các biến tương tác, kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) rủi ro do tự nhiên, sâu, dịch bệnh, hoặc kinh tế ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiền lương, tiền công; đặc biệt tập trung ở những hộ bị rủi ro tự nhiên hay kinh tế, cá nhân có đa dạng hóa thu nhập, hộ bị sâu, dịch bệnh và có giá trị khoản vay tích lũy cao, hoặc có vay trong năm bị rủi ro, hoặc hộ có tham gia bảo hiểm nhưng thiệt hại do rủi ro cá nhân lớn; (2) ngược lại, hộ bị rủi ro tự nhiên và có giá trị tiết kiệm tích lũy cao, hoặc bị rủi ro cá nhân mà có tham gia bảo hiểm sẽ có tiền lương, tiền công cao hơn.

7542 Nhân tố tác động đến dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam / Khúc Thế Anh, Phạm Bích Liên, Bùi Kiên Trung // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 272 .- Tr. 42-51 .- 332.1

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các nhân tố lên dân trí tài chính (financial literacy) của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam. Nhóm tác giả đã sử dụng cả nghiên cứu định tính và định lượng để đánh giá. Kết quả chỉ ra rằng các nhân tố nội tại bao gồm kiến thức tài chính, hành vi tài chính và thái độ tài chính là những nhân tố phản ánh (reflective model) – có tác động đến dân trí tài chính trong đó thái độ về tiết kiệm và đầu tư tài chính có ảnh hưởng rõ rệt nhất. Nghiên cứu cũng kiểm định rằng, trong các nhân tố nhân khẩu học thì tuổi tác, thu nhập và học vấn có tác động cùng chiều lên dân trí tài chính; đồng thời giới tính không có ảnh hưởng đáng kể. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra một số hàm ý chính sách với các cơ quan liên quan trong việc hình thành thói quen tiết kiệm của người nghèo khu vực nông thôn, đồng thời hình thành các vấn đề về thái độ và hành vi tài chính.

7543 Ghi nhận và công bố thông tin về lợi thế thương mại và tài sản vô hình khác trong hợp nhất kinh doanh - trường hợp của tập đoàn Vingroup / Nguyễn Công Phương, Lê Thị Thu Hiền // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 272 .- Tr. 52-62 .- 658

Sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp, bài báo nhằm đánh giá vận dụng chuẩn mực kế toán hợp nhất kinh doanh theo hai khía cạnh: ghi nhận và công bố thông tin các tài sản sinh ra từ hợp nhất kinh doanh. Vingroup được chọn do công ty có nhiều giao dịch hợp nhất kinh doanh và tiên phong trong việc lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế. Kết quả phân tích cho thấy vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa yêu cầu và thực tế áp dụng các chuẩn mực kế toán hợp nhất kinh doanh tại công ty trong việc ghi nhận và công bố thông tin về lợi thế thương mại và tài sản vô hình khác khi lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực Việt Nam và theo chuẩn mực quốc tế. Kết quả này ngụ ý rằng, minh bạch thông tin giao dịch hợp nhất kinh doanh ở Việt Nam còn chưa đáp ứng kỳ vọng và điều này có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhà đầu tư.

7544 So sánh khả năng giải thích của 3 mô hình định giá tài sản: CAPM, Fama French 3 nhân tố và Fama French 5 nhân tố trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Phan Trần Trung Dũng, Nghiêm Thị Duyên // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 272 .- Tr. 63-72 .- 658

Nghiên cứu này nhằm so sánh khả năng giải thích của 3 mô hình định giá: Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), Fama French 3 nhân tố (FF3NT) và Fama French 5 nhân tố (FF5NT) đối với tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu niêm yết tại sàn chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE), sử dụng chỉ số thị trường VN-Index, giá đóng cửa của các cổ phiếu (không gồm ngành ngân hàng) được niêm yết trên HOSE với tần suất tháng trong giai đoạn từ ngày 01 tháng 01 năm 2014 đến ngày 31 tháng 12 năm 2018. Kết quả cuối cùng cho thấy FF5NT là phù hợp và tốt nhất trong 3 mô hình trong việc giải thích sự thay đổi của tỷ suất sinh lợi của các cổ phiếu niêm yết trên HOSE.

7545 Các nhân tố tác động đến sự sáng tạo: cơ chế trung gian của tự điều chỉnh nhiệm vụ / // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 272 .- Tr. 73-81 .- 658

Dựa vào lý thuyết sự chủ động trong công việc (Carpini & cộng sự, 2017; Griffin & cộng sự, 2007; Parker & Collins, 2010), nghiên cứu đề xuất rằng động lực nội tại, kỹ năng sáng tạo và chuyên môn tác động trực tiếp đến tự điều chỉnh nhiệm vụ và ảnh hưởng gián tiếp đến sự sáng tạo thông qua tự điều chỉnh nhiệm vụ. Nghiên cứu chính thức đã khảo sát 331 chuyên viên, kỹ thuật viên và kỹ sư đang làm việc tại các doanh nghiệp công nghệ thông tin. Kết quả cho thấy động lực nội tại, kỹ năng sáng tạo và chuyên môn tác động trực tiếp dương đến tự điều chỉnh nhiệm vụ. Hơn nữa, tự điều chỉnh nhiệm vụ là trung gian liên kết tác động của (a) động lực nội tại, (b) kỹ năng sáng tạo, (c) chuyên môn lên sự sáng tạo.

7546 Thực tập sinh khối ngành kinh tế của các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế / // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 272 .- Tr. 82-90 .- 658

Bài viết làm rõ tình hình sử dụng thực tập sinh cũng như nhu cầu tuyển dụng thực tập sinh khối ngành kinh tế của các doanh nghiệp trên địa bàn Thành phố Huế. Thông qua dữ liệu khảo sát các doanh nghiệp bằng phương pháp chọn mẫu quota, nhóm nghiên cứu đã phản ánh được các hoạt động thực tế mà thực tập sinh đã tham gia, lợi ích và những trở ngại khi doanh nghiệp sử dụng thực tập sinh cũng như những mong muốn của doanh nghiệp đối với việc sử dụng thực tập sinh tại đơn vị của mình. Từ đó, nghiên cứu đã đề xuất các hàm ý cho các bên liên quan trong việc đáp ứng nhu cầu thực tập sinh ở các doanh nghiệp.

7547 Hoàn thiện chính sách đối với hoạt động chuyển giá của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam / Nguyễn Thị Phương Liên, Nguyễn Tuấn Anh // Khoa học Thương mại .- 2019 .- Số 136 .- Tr. 2-10 .- 332.1

Phân tích một số thay đổi trong chính sách, tìm ra những bất cập, vướng mắc - những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai thực thi pháp luật, từ đó đề xuất một vài định hướng nội dung và giải pháp hoàn thiện chính sách nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực này thời gian tới.

7548 Ảnh hưởng của việc mua bảo hiểm y tế và ô nhiễm không khí lên chỉ tiêu y tế ở Việt Nam / Nguyễn Thị Phương, Nguyễn Thị Tuyết // Khoa học Thương mại .- 2019 .- Số 136 .- Tr.11-19 .- 368

Nghiên cứu xem xét mức chi tiêu y tế tại Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2016 đồng thời đánh giá ảnh hưởng của việc mua bảo hiểm y tế và ô nhiễm môi trường lên cầu y tế của các cá nhân trong mẫu điều tra. Kết quả trước tiên chỉ ra chi phí y tế trung bình của các cá nhân tăng từ 1,36 triệu đồng năm 2010 lên 2,76 triệu đồng năm 2016. Mức chi tiêu y tế của các hộ gia đình trong giai đoạn nghiên cứu chiếm khoảng 3-4% tổng thu nhập của các hộ. Thứ hai, nghiên cứu tìm thấy rằng việc mua bảo hiểm y tế làm gia tăng chi tiêu y tế của người mua. Thứ ba, ô nhiễm không khí tác động nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng và gây áp lực chi phí y tế hiện nay.

7549 Hành vi tiêu dùng bền vững trong lĩnh vực ăn uống của giới trẻ: nghiên cứu so sánh các nhóm sinh viên trên địa bàn Hà Nội / Phạm Tuấn Anh, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Mỹ Hạnh // .- 2019 .- Số 136 .- Tr. 20-29 .- 658

N ghiên cứu này nhằm đo lường hành vi tiêu dùng bền vững của nhóm sinh viên, sau đó khám phá có hay không sự khác biệt trong lựa chọn hành vi tiêu dùng bền vững giữa các nhóm sinh viên đang theo học tại các trường đại học tại Hà Nội, được phân theo các biến kiểm soát bao gồm giới tính, năm học vấn, tôn giáo, tình trạng quan hệ, tình trạng cư trú, chi tiêu trung bình. Thông qua phân tích dữ liệu thu thập được từ 791 sinh viên từ những hành vi thường ngày trong tiêu dùng cho mục đích ăn uống, kết quả nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng về sự khác biệt trong tiêu dùng bền vững cho mục đích ăn uống của các nhóm sinh viên phân theo giới tính, năm học, tôn giáo, tình trạng cư trú và mức chi tiêu trung bình, nhưng có sự khác biệt về lựa chọn tiêu dùng bền vững giữa các nhóm sinh viên phân theo tình trạng quan hệ gồm: (i) độc thân, (ii) có người yêu và (iii) đã kết hôn trong đó, nhóm sinh viên có người yêu có mức độ lựa chọn tiêu dùng bền vững trong ăn uống cao hơn so với các sinh viên còn độc thân, chưa có người yêu.

7550 Các yếu tố ảnh hưởng tới cơ cấu vốn của các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam / Trần Đức Thắng // Khoa học Thương mại .- 2019 .- Số 136 .- Tr. 30-38 .- 658

Cơ cấu vốn là yếu tố quyết định tới giá trị của doanh nghiệp. Vì vậy, việc nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố tới cơ cấu vốn sẽ là cơ sở để các nhà quản trị quyết định lựa chọn cơ cấu vốn cho doanh nghiệp. Nghiên cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố tới cơ cấu vốn của các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm tại Việt Nam. Nghiên cứu đã chỉ ra cơ cấu vốn của các doanh nghiệp ngành sản xuất thực phẩm Việt Nam tuân theo lý thuyết trật tự phân hạng, theo đó, có 5 yếu tố có ảnh hưởng rõ rệt đến cơ cấu vốn là hiệu quả kinh doanh, tuổi doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu tài sản.