CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
7531 Các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn / Ma Thị Hường, Vũ Quỳnh Nam, Trần Thị Thu Hương // Kinh tế và dự báo (Điện tử) .- 2017 .- Số 36 .- Tr. 51-54 .- 658

Thông qua kết quả khảo sát toàn hộ 51 hợp tác xã (HTX) nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn, tác giả tiến hành phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới doanh thu từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các HTX nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Chi phí nguyên liệu; Tổng giá trị tài sản cố định; Kinh nghiệm hoạt động của HTX; Chi phí lao dộng: Nguồn vốn lưu động của HTX; Trình độ học vấn của giám đốc HTX và Chính sách hỗ trợ của Nhà nước là các yếu tố ảnh hưởng đến doanh thu của các HTX nông nghiệp trên địa hàn tỉnh Bắc Kạn. Dựa vào kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao doanh thu của các HTX nông nghiệp của tỉnh Bắc Kạn trong thời gian tới.

7532 Quản trị công ty và hiệu quả hoạt động của công ty niêm yết trên sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh / Trương Đông Lộc, Trần Thị Kiều Trang // Khoa học thương mại (Điện tử) .- 2015 .- Số 82+83 .- Tr. 71-80 .- 658

Đo lường ảnh hưởng của quản tri công ty đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh nhằm làm phong phú thêm các bằng chứng thực nghiệm liên quan đến vấn đề này. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu là số liệu dạng bảng được thu thập từ các báo cáo tài chính, báo cáo quản trị công ty và các tài liệu được công bố công khai có liên quan của 282 công ty niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2011 - 2013.

7533 Xác định cầu giáo dục đại học ở Việt Nam : tiếp cận bằng mô hình chọn Heckman / Trương Nhật Hoa, Nguyễn Khắc Minh // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 7(494) .- Tr. 21-31 .- 338.5

Để phân biệt rõ nhân tố quyết định hành vi ra quyết định về chi tiêu của hộ gia đình vào giáo dục đại hcoj, mô hình Heckman hai bước được áp dụng vào bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2016. Kết quả cho thấy, tình trạng xã hội và kinh tế của gia đình có ảnh hưởng tương đối lớn đến chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục đại học. Chi phí cơ hội được biểu hiệu như một yếu tố quan trọng trong quyết định đầu tư vào giáo dục đại học.

7534 Giảm thiểu rủi ro liên quan các dự án đầu tư theo hình thức quan hệ đối tác công - tư ở Việt Nam / Lê Xuân Sang // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 7(494) .- Tr. 32-42 .- 658

Nghiên cứu này nhận dạng các loại hình rủi ro, nguyên nhân gây rủi ro tài khóa từ các dự án PPP ở Việt Nam theo cách tiếp cận về rủi ro của LMF và kinh nghiệm giám sát, khảo sát thực tiến các dự án BOT/PPP oqr miền Trung Việt Nam; qua đó, đề xuất các định hướng giảm thiểu rủi ro từ hình thức đầu tư này trong tương lai.

7535 Tác động của xuất khẩu đến năng suất lao động trong doanh nghiệp / Vũ Thị Thư Thư // Nghiên cứu kinh tế .- 2019 .- Số 7(494) .- Tr. 43-53 .- 658

Tổng quan nghiên cứu; Số liệu và phương pháp nghiên cứu qua các số liệu thống kê điều tra doanh nghiệp của VN từ năm 2013 đến 2017; Một số đặc điểm về hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam; Ảnh hưởng của xuất khẩu đến năng suất lao động trong doanh nghiệp.

7536 Bất bình đẳng chi tiêu công cho giáo dục và thu nhập tại Việt Nam / Võ Hồng Đức, Võ Thế Anh, Hồ Minh Chí // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 272 .- Tr. 2-12 .- 330

Chi tiêu công cho giáo dục là vấn đề nền tảng cho sự phát triển kinh tế xã hội ở các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm cung cấp các kết quả định lượng cho hai mục tiêu nghiên cứu sau đây. Thứ nhất, nghiên cứu xác định mức độ chênh lệch chi tiêu công cho giáo dục tại Việt Nam, dựa trên phương pháp mới được phát triển bởi Vo (2008, 2009, 2010). Thứ hai, nghiên cứu xây dựng và xác định mối tương quan giữa chênh lệch chi ngân sách cho giáo dục và phân phối thu nhập tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy bất bình đẳng chi tiêu công cho giáo dục làm tăng bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam. Bên cạnh đó, chi ngân sách đảm bảo an ninh xã hội lại làm giảm bất bình đẳng thu nhập. Nghiên cứu này chỉ ra rằng giảm chênh lệch giữa mức độ chi tiêu công cho giáo dục giữa các đơn vị trong cả nước và trong mỗi địa phương sẽ góp phần làm giảm bất bình đẳng về thu nhập tại Việt Nam.

7537 Tổ chức công đoàn và hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp nhỏ và vừa / Bạch Ngọc Thắng // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 272 .- Tr. 13-22 .- 658

Nghiên cứu này phân tích ảnh hưởng của tổ chức công đoàn đến hoạt động đổi mới của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong giai đoạn 2011-2015. Tuy đã có nhiều nghiên cứu đề cập về mối quan hệ này ở các nước phát triển, nhưng một nghiên cứu sâu ở quốc gia đang phát triển và chuyển đổi như Việt Nam lại rất có ý nghĩa do tổ chức công đoàn ở quốc gia này rất khác về vị thế và khả năng đàm phán. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự có mặt của tổ chức công đoàn làm gia tăng hoạt động cải tiến sản phẩm hiện có, thúc đẩy doanh nghiệp đưa ra công nghệ hay qui trình sản xuất mới, và kế hoạch giới thiệu sản phẩm mới trong tương lai. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam chỉ chú trọng đầu tư chiều sâu bằng việc phát triển công nghệ/qui trình sản suất mới hay giới thiệu sản phẩm mới, nếu như chủ tịch công đoàn đồng thời là chủ hay có mối liên hệ với chủ doanh nghiệp. Vấn đề này có hàm ý chính sách quan trọng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong dài hạn, đồng thời bảo đảm mối quan hệ hài hòa giữa người lao động và chủ doanh nghiệp.

7538 Tác động của tín dụng đến bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam / Lê Quốc Hội // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 273 .- Tr. 23-31 .- 658

Bài viết ước lượng tác động của tín dụng tới bất bình đẳng thu nhập ở Việt nam bằng việc sử dụng dữ liệu cấp tỉnh và phương pháp ước lượng Moment tổng quát. Khác với nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này phân tách tác động riêng của từng loại hình tín dụng tới bất bình đẳng thu nhập. Kết quả cho thấy trong khi tín dụng thương mại làm gia tăng bất bình đẳng thu nhập thì tín dụng chính sách lại góp phần giảm bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam. Trên cơ sở đó bài viết đề xuất một số kiến nghị nhằm kết hợp phát triển thị trường tín dụng với giảm bất bình đẳng thu nhập ở Việt Nam.

7539 Ảnh hưởng của rủi ro đến tiền lương, tiền công của hộ gia đình nông thôn Việt Nam / Nguyễn Thị Mai, Hạ Thị Thiều Dao // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 272 .- Tr. 32-41 .- 658

Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu rút trích từ bộ dữ liệu Điều tra Tiếp cận Nguồn lực của Hộ gia đình được khảo sát các năm 2008, 2010, 2012, 2014, 2016 gồm 1.872 hộ gia đình nông thôn Việt Nam. Thông qua mô hình hồi quy hiệu ứng cố định cùng với các biến tương tác, kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) rủi ro do tự nhiên, sâu, dịch bệnh, hoặc kinh tế ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiền lương, tiền công; đặc biệt tập trung ở những hộ bị rủi ro tự nhiên hay kinh tế, cá nhân có đa dạng hóa thu nhập, hộ bị sâu, dịch bệnh và có giá trị khoản vay tích lũy cao, hoặc có vay trong năm bị rủi ro, hoặc hộ có tham gia bảo hiểm nhưng thiệt hại do rủi ro cá nhân lớn; (2) ngược lại, hộ bị rủi ro tự nhiên và có giá trị tiết kiệm tích lũy cao, hoặc bị rủi ro cá nhân mà có tham gia bảo hiểm sẽ có tiền lương, tiền công cao hơn.

7540 Nhân tố tác động đến dân trí tài chính của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam / Khúc Thế Anh, Phạm Bích Liên, Bùi Kiên Trung // Kinh tế & phát triển .- 2020 .- Số 272 .- Tr. 42-51 .- 332.1

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tác động của các nhân tố lên dân trí tài chính (financial literacy) của người nghèo khu vực nông thôn Việt Nam. Nhóm tác giả đã sử dụng cả nghiên cứu định tính và định lượng để đánh giá. Kết quả chỉ ra rằng các nhân tố nội tại bao gồm kiến thức tài chính, hành vi tài chính và thái độ tài chính là những nhân tố phản ánh (reflective model) – có tác động đến dân trí tài chính trong đó thái độ về tiết kiệm và đầu tư tài chính có ảnh hưởng rõ rệt nhất. Nghiên cứu cũng kiểm định rằng, trong các nhân tố nhân khẩu học thì tuổi tác, thu nhập và học vấn có tác động cùng chiều lên dân trí tài chính; đồng thời giới tính không có ảnh hưởng đáng kể. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra một số hàm ý chính sách với các cơ quan liên quan trong việc hình thành thói quen tiết kiệm của người nghèo khu vực nông thôn, đồng thời hình thành các vấn đề về thái độ và hành vi tài chính.