CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
7481 Phân nhóm quốc gia theo tiềm năng và thực tế chi tiêu công / Hoàng Khắc Lịch // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 137+138 .- Tr. 40-49 .- 658
Phân loại là một công việc có ý nghĩa trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Phân loại giúp các tổ chức và cá nhân có thể xác định được những đối tượng (hoặc sản phẩm, sự việc, vấn đề…) có sự tương đồng về một hoặc nhiều khía cạnh. Từ đó, các giải pháp tương ứng có thể được đề xuất một cách phù hợp nhất với từng nhóm, đảm bảo có tính đặc thù hướng tới nâng cao chất lượng và hiệu quả. Tùy theo từng mục đích mà cách phân loại được sử dụng sao cho phù hợp. Ví dụ, nghiên cứu về mức sống của các nước, người ta thường sử dụng cách phân loại của Ngân hàng Thế giới; Nghiên cứu về tài chính quốc tế, người ta thường sử dụng cách phân loại của IMF; Nghiên cứu về phát triển con người, người ta thường sử dụng cách phân loại của UNDP. Trong bài viết này, tác giả đề xuất một cách phân loại các quốc gia, phù hợp cho các mục đích nghiên cứu về chính sách tài khóa nói chung và chi tiêu công nói riêng. Phương pháp K-means được dùng để phân cụm; Các kỹ thuật phân tích Elbow và chỉ số Silhouette dùng để xác định số nhóm tối ưu; Kỹ thuật kiểm định Kruskal-Wallis H được dùng để xác định biến số có ý nghĩa trong phân loại. Kết quả là tổng cộng 134 quốc gia có số liệu trong giai đoạn từ năm 2008 (dấu mốc khủng khoảng tài chính toàn cầu) tới nay được tách thành 03 nhóm theo GNI bình quân, tính hiệu quả của chính phủ và quy mô chi tiêu công.
7482 Tác động của toàn cầu hóa đến sự phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Việt Nam / Nguyễn Thị Cẩm Vân // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 137+138 .- Tr. 50-60 .- 658
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp kiểm định đồng tích hợp Johansen và mô hình hiệu chỉnh sai số để đánh giá tác động của toàn cầu hóa đến sự phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Việt Nam giai đoạn 1995-2016. Kết quả nghiên cứu cho thấy toàn cầu hóa có tác động thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài, cán cân thương mại và tỷ giá có tác động tích cực đến sự phát triển công nghiệp và dịch vụ trong cả ngắn hạn và dài hạn. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy dự trữ có ảnh hưởng dương đến sự phát triển công nghiệp và dịch vụ trong dài hạn. Tuy nhiên, ảnh hưởng này không có ý nghĩa trong ngắn hạn. Dựa trên các kết quả phân tích, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển công nghiệp và dịch vụ ở Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.
7483 Nghiên cứu mức độ chủ động trong chiến lược kinh doanh thân thiện với môi trường của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam / Đỗ Thị Bình // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Sô 137+138 .- Tr. 61-74 .- 658
Sự xuất hiện liên tục của các quy định và tiêu chuẩn mới về môi trường, áp lực của các bên liên quan và sự đổi mới của công nghệ… tạo nên nhiều kịch bản cạnh tranh khác nhau xoay quanh các vấn đề môi trường. Đối phó với các áp lực đó, theo đuổi chiến lược kinh doanh thân thiện với môi trường (CLKDTTMT) là lựa chọn của nhiều doanh nghiệp hiện nay. Với mục đích nghiên cứu mức độ chủ động trong theo đuổi CLKDTTMT của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản Việt Nam, tác giả đã phân tích dữ liệu thứ cấp của 32 công ty niêm yết và phỏng vấn 44 nhà quản lý của 28 doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu. Kết quả nghiên cứu cho thấy bức tranh toàn cảnh của mức độ áp dụng chiến lược kinh doanh thân thiện môi trường của các doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu hiện nay khi CLKDTTMT thụ động đứng đầu, sau đó lần lượt là CLKDTTMT cơ hội, CLKDTTMT tập trung và cuối cùng là CLKDTTMT chủ động. Kết quả nghiên cứu tạo nên một số hàm ý đối với các nhà xây dựng chính sách và các nhà quản lý.
7484 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thành lập các tiểu ban trực thuộc hội đồng quản trị của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Ngô Mỹ Trân, Dương Trọng Nhân // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 137+138 .- Tr. 75-85 .- 658
Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến khả năng thành lập các tiểu ban trực thuộc hội đồng quản trị (HĐQT) của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Số liệu sử dụng được thu thập từ 602 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2015 - 2017. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố gồm tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư là tổ chức và quy mô công ty có ảnh hưởng tích cực đến khả năng thành lập các tiểu ban trực thuộc hội đồng quản trị. Tuy nhiên, chưa có bằng chứng thống kê cho thấy quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên HĐQT là người nước ngoài, tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành, hiệu quả hoạt động của công ty, công ty có sử dụng dịch vụ kiểm toán của Big-4 và số năm niêm yết có ảnh hưởng đến xu hướng thành lập các tiểu ban trực thuộc HĐQT.
7485 Phân tích tác động của quản trị tài chính với hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam / Lê Thị Mỹ Phương, Cao Thi Hà Thương // Khoa học Thương mại .- 2020 .- sỐ 137+137 .- Tr. 86-99 .- 332.1
Hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả tài chính nói riêng luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị điều hành doanh nghiệp, chủ sở hữu và các chủ thể liên quan khác. Để thực hiện mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh doanh đòi hỏi các doanh nghiệp phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp khác nhau bao gồm: các giải pháp về kỹ thuật, tổ chức sản xuất kinh doanh; giải pháp về quản trị tài chính; giải pháp về tổ chức và quản lý nhân sự; giải pháp về marketing, khai thác thị trường,… nhằm sử dụng tối ưu các nguồn lực. Thông qua nghiên cứu này, đã phân tích để thấy rõ được những tác động của các yếu tố tới hiệu quả của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán và có đưa ra một số đề suất hàm ý chính sách nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp sản xuất niêm yết trên thị trường chứng khoán.
7486 Ảnh hưởng của các công ty zombie đến hiệu quả hoạt động tài chính: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên các công ty niêm yết nhóm ngành vật liệu xây dựng tại Việt Nam / Vũ Thị Thu Hương, Tạ Quang Bình, Hồ Thị Mai Sương, Lương Thị Ngân // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 137+138 .- Tr. 100-108 .- 658
Nghiên cứu này tập trung xem xét hai vấn đề chính là: xây dựng các tiêu chí xác định công ty zombie (doanh nghiệp xác sống) và xem xét ảnh hưởng của nhóm các công ty này đến hiệu quả hoạt động tài chính của các công ty trong cùng nhóm ngành. Trong đó, các công ty zombie được xác định là các công ty làm ăn thua lỗ và có lợi nhuận trước lãi vay và thuế không đủ trả tiền lãi vay trong ba năm liên tiếp. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên số liệu của 65 công ty niêm yết nhóm ngành vật liệu xây dựng, hoạt động trong giai đoạn 2008-2016, cho thấy: (1) Trung bình trong giai đoạn nghiên cứu, tỷ lệ zombie trong các công ty niêm yết nhóm ngành vật liệu xây dựng chiếm 18% và tỷ lệ zombie cao nhất là 29,23% vào năm 2013, đỉnh điểm của giai đoạn doanh nghiệp khủng hoảng vốn và làm ăn thua lỗ; (ii) Kết quả kiểm định sự khác biệt nhóm cho thấy: nhóm các tiêu chí phản ánh hiệu quả hoạt động tài chính bao gồm: khả năng thanh toán; tình hình sử dụng vốn và khả năng sinh lời của nhóm công ty zombie đều thấp hơn so với nhóm khỏe mạnh, và các mức khác biệt này đều có ý nghĩa thống kê. Điều này giúp khẳng định nhóm zombie làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài và ẩn chứa nhiều rủi ro tài chính; (iii) Kết quả phân tích hồi quy cho biết: Nhóm các công ty zombie có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động tài chính, đại diện bởi ROA của các công ty niêm yết trong nhóm ngành vật liệu xây dựng. Từ các kết quả nghiên cứu thực nghiệm, các tác giả đã đề xuất một số khuyến nghị mang hàm ý chính sách nhằm giảm ảnh hưởng tiêu cực từ nhóm các công ty zombie đến hiệu quả hoạt động chung của toàn ngành và nền kinh tế.
7487 Ảnh hưởng của thuê ngoài dịch vụ đến hiệu quả phi tài chính của doanh nghiệp - nghiên cứu trường hợp các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Đồng bằng Sông Cửu Long / Đinh Công Thành, Lê Tấn Nghiêm, Nguyễn Hồng Gấm // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 137+138 .- Tr. 109-118 .- 658
Nghiên cứu xác định các yếu tố tác động đến việc thuê ngoài dịch vụ cũng như nghiên cứu tác động của việc thuê ngoài đến hiệu quả phi tài chính của các DNNVV ở ĐBSCL. Dữ liệu được thu thập là 379 DNNVV sử dụng dịch vụ thuê ngoài. Nghiên cứu sử dụng công cụ kiểm định Cronbach’s alpha, nhân tố khám phá EFA, nhân tố khẳng định CFA và mô hình cấu trúc tuyến tính SEM. Kết quả cho thấy, thuê ngoài dịch vụ đã tác động tích cực đến hiệu quả phi tài chính doanh nghiệp. Trong đó, thuê ngoài tác động đáng kể nhất đến hiệu quả thu hút khách hàng và nhân viên, cũng như hiệu quả xử lý công việc nội bộ, đổi mới và phát triển tổ chức.
7488 Entrepreneurship and Credit Crunch in Vietnam: A Recurring Reality? = Doanh nghiệp và thắt chặt tín dụng ở Việt Nam: thực trạng tái xuất hiện? / Hervé B. BOISMERY // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 137+138 .- Tr. 119-132 .- 658
This paper examines whether and to what extent the Vietnamese economy have been suffering and is still suffering from a credit crunch in the context of its dynamic growth. The paper employs a systematic framework in the tradition of the credit view literature to assess the occurrence and the magnitude of the credit crunch considered like a major obstacle to the development of an endogenous entrepreneurship in Vietnam By using a consistent approach based on several topics (interest rates, exchange rate, dollarization, monetary policy), the paper goes beyond acroeconomic indicators and anecdotal evidence. The framework also allows assessing how the credit crunch affects differently across the various sectors of the economy. The main results of the study show that the credit crunch is a widespread and permanent reality in Vietnam and its negative impact affects particularly the profitability of enterprises’ productive investments Furthermore, a protracted and heavy reliance on tight monetary policy, entailing high real interest rates, appears inappropriate for restoring a long-term market confidence. Therefore, it would be desirable to consider alternative policy instruments aiming new paradigms and that do not place further stress on the banking sector and on its lending to the corporate sector.
7489 Risk-Adjusted Productivity Change of Taiwan’s Banks in The Financial Holding Companies = Thay đổi năng suất điều chỉnh rủi ro của các ngân hàng Đài Loan trong các công ty cổ phần tài chính / YU-HUI LIN, JIA-CHING JUO // Khoa học Thương mại .- 2020 .- Số 137+138 .- Tr. 133-144 .- 658
After financial holding company act was implemented in 2001, taiwan’s banks have experienced structural changes. This study employs the risk-adjusted profit productivity indicator to investigate whether the banks in the financial holding companies (fhcs) could operate with higher productivity growth than those without establishing or joining fhcs. Equity capital which is regarded as a risk factor in this study. The data of taiwan’s banks over the period 2010-2016 were taken for the above comparison.
7490 Kinh nghiệm áp dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế về kế toán thu, chi và kết quả hoạt động trong đơn vị công tại một số quốc gia và bài học cho Việt Nam / Trần Thị Thắm // Kế toán & Kiểm toán .- 2019 .- Số 186 .- Tr. 74-75 .- 657
Trình bày kinh nghiệm của Australia, Indonesia và bài học cho Việt Nam.