CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
6871 Quản trị tài chính gắn với trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập trong cơ chế tự chủ / Hoàng Việt Dũng, Nguyễn Thị Diệp, Nguyễn Thị Mỹ Hương // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 542 .- Tr. 84-86 .- 658

Hiện nay, trong điều kiện được trao quyền tự chủ nhiều hơn, các trường đại học công lập đã từng bước thay đổi để thích ứng. Với yêu cầu của cơ chế tự chủ theo tinh thần Nghị định 16/2016/NĐ-CP, các cơ sở GDDH đang chuyển dịch theo hướng tiếp cận với thị trường với tư cách một nhà cung cấp dịch vụ để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Tuy nhiên, cùng với những chuyển động theo hướng tích cực, trong thức tế, nhiều trường còn lúng túng trong việc đổi mới hoạt động QTTC gắn với trách nhiệm giải trình phù hợp với yêu cầu của cơ chế tự chủ.

6872 Ảnh hưởng của văn hóa học đường đến kết quả học tập của học sinh tại Hà Nội / // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 542 .- Tr. 93-94 .- 658

Nghiên cứu này được thực hiện với những mục tiêu giúp cho nhà trường, giáo viên và các em học sinh trung học phổ thông (THPT) nhận biết về thwucj trạng văn hóa học đường hiện nay dưới góc nhìn của học sinh và sự tác động của văn hóa học đường tới kết quả học tập của học sinh. Dữ liệu được thu thập từ các học sinh tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nhóm tác giả sử dụng hồi quy để xác định mức độ ảnh hưởng. Kết quả chỉ ra rằng sự gắn kết với trường học, tương tác giữa học sinh, cơ sở vật chất và quá trình học tập có các tác động tích cực đến là kết quả học tập của học sinh THPT trên địa bàn Hà Nội. Dựa trên kết quả nghiên cứu, nhóm đưa ra các đề xuất nhằm tăng cường sự gắn kết giữa văn hóa học đường và nâng cao kết quả học tập của nhóm học sinh trên địa bàn thành phố Hà Nội.

6873 Chiến lược xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế: nghiên cứu so sánh giữa một số quốc gia châu Á / // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 542 .- Tr. 90-92 .- 658

Việc xây dựng "Đại học đẳng cấp quốc tế" được đánh giá là mục tiêu chiến lược quan trọng của mỗi quốc gia nhằm nâng tầm giáo dục đại học và vị thế của quốc gia đó trên trường quốc tế. Trong khu vực Châu Á, một số quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan đều đã xây dựng được nhiều đại học đẳng cấp quốc tế được xếp thứ hạng cao. Trên cơ sở phân tích và so sánh chiến lược xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế ở 3 quốc gia cùng khu vực, nghiên cứu đưa ra một số giải pháp đối với Việt Nam.

6874 Tác động của kế toán sáng tạo đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp / Nguyễn Thị Bích Liễu // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 542 .- Tr. 95-97 .- 658

Trong những năm gần đây, kế toán sáng tạo là một trong những thuật ngữ phổ biến trong kinh tế và là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Kế toán sáng tạo tuy không phải là hoạt động bất hợp pháp nhưng ranh giới giữa việc sử dụng kế toán sáng tạo hợp pháp và gian lận kế toán không rõ ràng và rất khó xác định. Nhiều nhà quản trị doanh nghiệp và kế toán viên trong các doanh nghiệp tại Việt Nam còn chưa nắm đầy đủ và chính xác về các hành vi cũng như tác động của kế toán sáng tạo đến báo cáo tài chính. Bài viết sẽ trình bày những tác động cơ bản của kế toán sáng tạo đến báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

6875 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch và lữ hành tại tỉnh Bình Định / Nguyễn Bá Phước // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 542 .- Tr. 98-100 .- 658

Bằng phương pháp phân tích nhân tố khám phá (FEA) và hồi quy tuyến tính bội, tác giả đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch và lữ hành tại Bình Định. Với việc kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả đã tiến hành khảo sát 358 khách du lịch có sử dụng dịch vụ của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và lữ hành tại Bình Định. Kết quả nghiên cứu cho nhân tố: "Nhận biết thương hiệu", "Chất lượng cảm nhận", "Lòng trung thành thương hiệu" và "Thái độ đối với chiêu thị" có ảnh hưởng đến giá trị thương hiệu của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch và lữ hành tại Bình Định; trong đó, nhân tố " Nhận biết thương hiệu" có tác động mạnh nhất. Đây chính là cơ sở quan trọng để các doanh nghiệp xem xét các chính sách và dịch vụ của mình, từ đó định vị được thương hiệu và nâng cao giá trị thương hiệu nhằm thu hút nhiều khách hàng.

6876 Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên / Trần Thị Ngọc Linh, Nguyễn Thị Kim Anh // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 542 .- Tr. 104-105 .- 658

Thái Nguyên được coi là cái nôi của ngành công nghiệp luyện kim Việt Nam với công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên (TISCO). Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, TISCO đã khẳng định được vai trò và đóng góp một phần đáng kể cho sự phát triển ngành công nghiệp tỉnh Thái Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung, tạo việc làm cho trên 4.500 lao động, với mức lương bình quân đạt trên dưới 7 triệu đồng/lao động/tháng. Bài viết phân tích tài chính của TISCO trong 3 năm gần đây, từ đó đề xuất giải pháp cải thiện tình hình của công ty trong thời gian tới.

6877 Tái cấu trúc nền kinh tế Ấn Độ từ năm 2000 đến nay / Trịnh Hà Ngân // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 541 .- Tr. 10-12 .- 332.1

Từ đầu thế kỉ XXI đến nay, kinh tế Ấn Độ đã có được sự tăng trưởng vượt bậc, thành tựu này bắt nguồn chủ yếu từ việc thực hiện cải cách kinh tế từ năm 1991 và ảnh hưởng tích cực của nó mang lại. Ấn Độ đã tiếp thu đồng thời các mô hình tự do hóa, tư hữu hóa và toàn cầu hóa. Bước vào thế kỉ XXI, Ấn Độ tiếp tục công cuộc cải cách kinh tế với bối cảnh mới và đã đạt nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế. Bài viết này sẽ phân tích các yếu tố tác động, thực trạng và đánh giá kết quả quá trình tái cấu trúc nền kinh tế Ấn Độ từ năm 2000 đến nay.

6878 Công nghệ và năng suất lao động của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo Việt Nam / Trần Ngô Thị Minh Tâm // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 541 .- Tr. 7-9 .- 658

Theo báo cáo về năng suất lao động Việt Nam của Tổng Cục thống kê năm 2016, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Việt Nam hoạt động chủ yếu ở dạng sơ chế, gia công, tạo giá trị gia tăng cho sản phẩm rất thấp. Doanh nghiệp sản xuất công nghiệp Việt Nam có công nghệ sản xuất thấp và trung bình chiếm đa số (88% trong toàn ngành chế biến, chế tạo năm 2012. Giá trị tăng thêm các doanh nghiệp công nghệ cao là 26.5%). Các tỉ lệ này thậm chí còn thấp hơn so với năm 2010 (87% và 29% tương ứng). Năng suất lao động ngành công nghiệp chế biến của Việt Nam xếp thứ 97 sau các nước trong khu vực. Vì vậy, thúc đẩy cải tiến nâng cao công nghệ là nội dung quan trọng trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam.

6879 Quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam - Trung Quốc giai đoạn 2008-2018: thực trạng và những vấn đề đặt ra / Nguyễn Thị Thủy, Lê Thị Hương // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 541 .- Tr. 22-24 .- 658

Đối với Việt Nam, việc phát triển quan hệ thương mại với Trung Quốc chẳng những phù hợp với đường lối đối ngoại của nước ta "mong muốn làm bạn với các nước", mà còn phục vụ chiến lược phát triển nhằm tạo môi trường hòa bình ổn định, góp phần giữ vững an ninh và tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đổi mới đất nước. Trong quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc, quan hệ TMHH đã giúp Việt Nam tận dụng được những lợi thế trong sản xuất hàng hóa cũng như ngồn lao động dồi dào cả về số lượng và chất lượng với số dân trong độ tuổi lao động khá đông chiếm tới trên 50% dân số.

6880 Kinh nghiệm xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc và Nhật Bản vào thị trường EU và bài học cho Việt Nam / Trần Hoa Phượng // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2019 .- Số 541 .- Tr. 19-21 .- 658

Xuất khẩu hàng hóa là một hoạt động quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của một số quốc gia. Trong số các đối tác thương mại của Việt Nam, Liên minh Châu Âu (EU) là một thị trường vô cùng tiềm năng song cũng đòi hỏi các tiêu chuẩn hết sức cao đối với hàng hóa nhập khẩu. Chính vì vậy, bài viết đã tìm hiểu kinh nghiệm xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc và Nhật Bản vào thị trường EU để từ đó rút ra một số bài học cho Việt Nam trong hoạt động này.