CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
4851 Kinh tế tuần hoàn : những vấn đề lý luận và thực tiễn / TS. Nguyễn Đình Đáp // Ngân hàng .- 2021 .- Số 17 .- Tr. 02-09 .- 330

Kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó đặt ra mục tiêu kéo dài tuổi thọ của vật chất, loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường. Việt Nam đang nỗ lực phát triển kinh tế theo hướng bền vững, giảm thiểu những tác động xấu đến môi trường và nền kinh tế tuần hoàn là mô hình được quan tâm, định hướng phát triển

4852 Phát huy vai trò của chính sách thuế đối với tăng trưởng toàn diện ở Việt Nam / Lê Xuân Trường, Đào Mai Phương // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2021 .- Số 09 (218) .- Tr. 15 - 19 .- 658

Bài viết làm rõ cơ sở lý thuyết của chính sách thuế đối với tăng trưởng toàn diện. Phân tích thực trạng chính sách thuế góp phần đảm bảo tăng trưởng toàn diện ở Việt Nam trong 2 thập kỷ vừa qua và đề xuất các giải pháp góp phần phát huy vài trò của chính sách thuế đối với tăng trưởng toàn diện thời gian tới.

4853 Ứng dụng ma trận Tows trong việc xây dựng trải nghiệm khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam / TS. Vũ Hồng Thanh, ThS. Trần Thị Lan Hương // Ngân hàng .- 2021 .- Số 17 .- Tr. 14-20 .- 332.12

Bài viết sử dụng ma trận Tows để phân tích các cơ hội, thách thức, điểm yếu và điểm mạnh từ đó đề xuất các giải pháp để giúp các ngân hàng thương mại tại Việt Nam xây dựng trải nghiệm khách hàng hiệu quả

4854 Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trước xu hướng chuyển đổi số / TS. Nguyễn Thị Ngọc Anh // Ngân hàng .- 2021 .- Số 17 .- Tr. 26-31 .- 332.3

Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin của quỹ tín dụng nhân dân; Cơ hội và thách thức của hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trước xu hướng chuyển đổi số; Định hướng phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong thời kỳ chuyển đổi số; Một số đề xuất, kiến nghị để phát triển hệ thống quỹ tín dụng nhân dân

4855 Sử dụng kết hợp hai phương pháp PCA-DEA trong lựa chọn danh mục đầu tư trên thị trường chứng khoán / TS. Phạm Thị Mai Anh // Ngân hàng .- 2021 .- Số 17 .- Tr. 32-41 .- 332.6071

Nội dung bài viết đề cập đến cách kết hợp DEA với phương pháp phân tích thành phần chính nhằm giảm bớt hạn chế của phương pháp DEA cơ bản. Trên cơ sở đề xuất lý thuyết kết hợp hai phương pháp, bài viết cũng minh họa tính khả thi khi kết hợp hai phương pháp PCA-DEA trong lựa chọn danh mục đầu tư tối ưu với số liệu thu thập trên trang http://www.stockbiz.vn

4856 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi mua khi tiếp xúc thông điệp quảng cáo của các doanh nghiệp thời trang tại thành phố Hồ Chí Minh / Trần Văn Đạt, Phạm Lê Bích Liên // Nghiên cứu Tài chính Kế toán .- 2021 .- Số 09 (218) .- Tr. 49 - 52 .- 658

Tìm ra các yếu tố tác động đến ý định hành vi của người tiêu dùng. Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu với 315 mẫu khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho rằng, cảm xúc tích cực và hình ảnh thương hiệu có tác động tích cực đến ý định hành vi của người tiêu dùng. Ngoài ra cảm xúc tiêu cực cũng tác động tiêu cực đến ý định hành vi người tiêu dùng. Nghiên cứu này giúp các nhà quản trị tập trung vào cảm xúc tích cực, cảm xúc tiêu cực và hình ảnh thương hiệu của mình để nâng cao hiệu quả trong việc chấp nhận quảng cáo sản phẩm.

4857 Giới thiệu lý thuyết tương hợp và khả năng ứng dụng trong một số bài toán xác lập thị trường ở Việt Nam / Trần Thị Tuấn Anh // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 4 .- Tr. 23-39 .- 658

Lý thuyết tương hợp là một nhánh quan trọng của lý thuyết trò chơi nhằm tìm lời giải cho những bài toán xác lập thị trường mà trong những thị trường đó vai trò của giá cả không còn được phát huy như các thị trường truyền thống. Bài viết này giới thiệu tóm tắt lý thuyết tương hợp thep những dạng chính, bao gồm tương hợp hai phía: như bài toán một – một, nhiều – một, nhiều – nhiều; tương hợp một phía như các bài toán phân bổ nguồn lực. Thuật toán chấp nhận trì hoãn (DAA – Deferred Acceptance Algorithm) tuy đơn giản nhưng khá hữu hiệu để tìm lời giải ổn định cho những bài toán xác lập thị trường dạng này. Các bài toán tương hợp đặt ra trong lý thuyết đều có những ứng dụng thực tiễn tại nhiều quốc gia trên thế giới và đem lại các kết quả khá nhân văn, như bài toán tuyển sinh, bài toán về hiến tạng, bài toán lao động việc làm, bài toán phân bổ nguồn lực và nhiều bài toán xác lập thị trường khác. Trong điều kiện Việt Nam, những bài toán tương tự cũng xuất hiện và vì vậy, tiềm năng ứng dụng lý thuyết tương hợp để giải quyết tình huống ở Việt Nam là khả thi và nhiều khả năng sẽ mang lại kết quả thực tiễn có ý nghĩa.

4858 Thống kê Bayes và ứng dụng trong dự báo giá chứng khoán của các ngân hàng - công ty tài chính ở Việt Nam / Lê Thanh Hoa, Nguyễn Phát Đạt, Phạm Thế Bảo // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2021 .- Số 4 .- Tr. 40-63 .- 332.1

Dự báo là một vấn đề rất được quan tâm, tức là ở thời điểm hiện tại sẽ dự báo thời điểm tương lai, đặc biệt trong các ứng dụng trong kinh tế - tài chính. Một khi dự báo tốt, kết quả dự báo sẽ hữu ích cho các doanh nghiệp đưa ra các chính sách quản lý cũng như các nhà đầu tư tối đa lợi nhuận. Bên cạnh đó, theo Quyết định số 242/QĐ-TTg phê duyệt đề án tái cơ cấu thị trường chứng khoán đến năm 2020 đòi hỏi các công ty phải chuẩn hóa hoạt động nghiệp vụ kinh doanh, báo cáo chính xác và minh bạch theo tiêu chuẩn quốc tế. Nhờ các thông tin minh bạch, các nhà đầu tư có đầy đủ các thông tin giúp đưa ra các quyết định đầu tư góp vốn hiệu quả nhất. Thật vậy, thông qua việc các nhà đầu tư có các thông tin tiên nghiệm chính xác, một phần trong thống kê Bayes bên cạnh thông tin hàm hợp lý từ các giá trị quá khứ, sẽ đưa ra kết quả dự báo phù hợp với thực tế hơn nên chính xác hơn. Các bài toán dự báo ngắn hạn thường tại thời điểm t sẽ dự báo thời điểm ngay sau đó là (t+1), trong khi đối với thị trường chứng khoán Việt Nam nhà đầu tư cần phải dự báo đến thời điểm (t+3), thời điểm nhà đầu tư mới có thể giao dịch cổ phiếu mới mua, tức là nhà đầu tư mở rộng hơn kết quả dự báo nhằm lường trước các rủi ro có thể xảy ra. Hơn thế nữa, khi thị trường chứng khoán liên tục có các tin tức cập nhật nên các các tham số dự báo được coi như là hằng số không còn phù hợp. Chính vì vậy, trong bài báo này có tín hiệu tốt khi chúng tôi ứng dụng thống kê Bayes trong bài toán dự báo giá chứng khoán của các ngân hàng thương mại và công ty tài chính trong khoảng thời gian đủ dài, đến thời điểm (t+3) với kết quả dự báo khoảng đúng khá cao 89.02% (dự báo khoảng với xác suất 68%).

4859 Định giá và bảo hộ quyền chọn với chi phí thanh khoản / Nguyễn Hữu Thái // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 4 .- Tr. 64-80 .- 332.1

Trong bài viết này, chúng tôi giới thiệu một số phương trình đạo hàm riêng xuất hiện từ bài toán bảo định giá và bảo hộ hợp đồng quyền chọn với chi phí giao dịch và chi phí thanh khoản bằng cách sử dụng độ biến động hiệu chỉnh cho phương trình định giá cổ điển Black-Scholes. Chúng tôi nghiên cứu dáng điệu tiệm cận của sai số bảo hiểm rủi ro trong chiến lược của Leland với sự có mặt của chi phí thanh khoản trong mô hình CJP đề xuât trong [6]. Chúng tôi chỉ ra rằng đối với một đường cung liên tục, trong khi chi phí thanh khoản trung gian có thể bị bỏ qua ở tiệm cận khi sử dụng chiến lược của Leland, chi phí thanh khoản tại thời điểm ban đầu đóng một vai trò quan trọng và cần được tính đến trong định giá quyền chọn.

4860 Phương pháp ước lượng LASSO: Cơ sở toán học và ứng dụng / Bùi Thị Thiện Mỹ // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 4 .- Tr. 5-22 .- 658

Bài báo giới thiệu phương pháp ước lượng LASSO cho phân tích hồi quy. Tương tự phương pháp OLS, LASSO tìm các ước lượng tham số của một mô hình hồi quy bằng cách cực tiểu hóa hàm mục tiêu là tổng bình phương các phần dư. Tuy nhiên, LASSO áp đặt ràng buộc tổng giá trị tuyệt đối của các tham số không vượt quá một tham số điều chỉnh. Bài viết trình bày tổng quan ý nghĩa, cơ sở toán học của phương pháp ước lượng LASSO. Bài viết đồng thời giới thiệu một tình huống thực nghiệm áp dụng phương pháp ước lượng LASSO nhằm xác định các yếu tố nội tại có ảnh hưởng đến các tỷ suất sinh lợi ROA, ROE của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Kết quả cho thấy, LASSO đã loại các yếu tố không có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc, cung cấp một mô hình hồi quy đơn giản hơn với sai số MSE nhỏ hơn so với phương pháp ước lượng OLS, tuy vậy sự cải thiện này chưa đáng kể.