CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
4751 Logistics tại Việt Nam có điểm yếu nhưng chưa có đủ chính sách mạnh để giải quyết / Trà Giang // Tự động hóa ngày nay .- 2021 .- Số 247+248 .- Tr. 12-13 .- 658.5

Logistics Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế khi mở cửa hoạt động. Đại dịch Covid-19 càng thấy rõ bất cập trong hoạt động Logistics. Từ tình hình thực tế nếu ra những nguyên nhân, tình trạng và cách nhìn nhận đúng vai trò Logistics trong vận hành kinh tế.

4752 Vững vàng trên con đường đầy thử thách của năm 2022 / Lê Tiến Trường // .- 2021 .- Số 395 .- Tr. 6-7 .- 658

Năm 2022 là thời điểm đầu tiên của 3 năm phục hồi sau dịch Covid-19. Những thách thức lớn đặt ra cho doanh nghiệp bài toán xây dựng kế hoạch năm đảm bảo rõ mục tiêu, chỉ tiêu, đích đến trên cơ sở những dự báo sát với thực tiễn và mang tính khoa học là nội dung chính được đăng tải trên tạp chí Dệt may và Thời trang số này.

4753 Hiến kế giải pháp căn cơ phục hồi kinh tế trong năm 2022 / Hoàng Anh // .- 2021 .- Số 395 .- Tr. 46-49 .- 330

Tại tọa đàm tham vấn chuyên gia về kinh tế - xã hội được tổ chức lần đầu tiên trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV diễn ra mới đây. Các đại biểu tập trung thảo luận, đề xuất nhiều giải pháp trọng tâm trước mắt và lâu dài để phục hồi kinh tế - xã hội trong và sau đại dịch Covid-19. Trong đó nhấn mạnh đến giải pháp xây dựng khung chương trình tổng thế phục hồi kinh tế trong và sau dịch.

4754 Vận dụng Thẻ điểm cân bằng để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp FDI tại Đồng Nai / Nguyễn Văn Dũng, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Hoài Thương // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 213 .- Tr. 50-52 .- 658

Nghiên cứu này là nhằm vận dụng Thẻ điểm cân bằng (BSC) để đánh giá hiệu quả hoạt động phù hợp với doanh nghiệp FDI tại Đồng Nai, xác định được nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các doanh nghiệp FDI tại Đồng Nai đã vận dụng Thẻ điểm cân bằng với 4 khía cạnh: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, đào tạo và phát triển để đánh giá hiệu quả hoạt động là khá tốt.

4755 Yếu tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí tại Công ty Viễn thông Bắc Ninh / Nguyễn Văn Hậu // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 213 .- Tr. 53-55 .- 657

Kết quả khảo sát thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Viễn thông Bắc Ninh không những cho thấy thực trạng công tác lập dự toán chi phí, thực hiện chi phí, kiểm soát chi phí, mà còn góp phần làm rõ những yếu tố tác động đến công tác kế toán quản trị chi phí tại công ty này.

4756 Tác động của cơ cấu và mức chi tiêu tài chính đến kết quả đào tạo tại các trường đại học công lập ở Việt Nam / Vũ Thị Liên // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 213 .- Tr. 46-49 .- 332.1

Giáo dục đại học đóng vai trò là hệ thống nuôi dưỡng của mọi lĩnh vực trong đời sống kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia, là nguồn cung cấp nhân lực cần thiết để phục vụ các công tác sản xuất, kinh doanh, quản lý, quy hoạch, thiết kế, giảng dạy, nghiên cứu... Sự tăng trưởng và phát triển của giáo dục đại học phụ thuộc vào hiệu quả quản lý tài chính của các trường đại học. Quản lý tài chính liên quan đến quyết định của tổ chức về cách tạo nguồn quỹ, kiểm soát các nguồn tài chính thông qua kiểm soát tài chính, phân bổ nguồn tài chính và các biện pháp giải trình trách nhiệm (Munge và các cộng sự, 2016). Vì thế, việc nghiên cứu tác động của cơ cấu và mức chi tiêu tài chính đến kết quả đào tạo tại các trường đại học là vấn đề bức thiết trong bối cảnh xu hướng tự chủ đại học ngày càng phổ biến hiện nay.

4757 Giải pháp nâng cao chất Iượng thông tin báo cáo tài chính cho doanh nghiệp / Nguyễn Thị Ngọc Bích, Thái Thị Hoài Thương // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 213 .- Tr. 79-81 .- 332.1

Chất lượng thông tin báo cáo tài chính (BCTC) luôn là vấn đề được nhiều sự quan tâm của các đối tượng sử dụng. Một BCTC có chất lượng sẽ đáp ứng tốt yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp (DN), cơ quan nhà nước và phục vụ nhu cầu hữu ích cho người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế một cách hiệu quả. Trong bài viết này, nhóm tác giả hướng đến nghiên cứu cơ sở lý luận về chất lượng thông tin BCTC, thực trạng chất lượng BCTC của các DN Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin BCTC cho các DN Nam hiện nay.

4758 Lực lượng lao động và tương lai trong lĩnh vực kiểm toán / Hồ Thị Vân Anh, Trần Thị Quỳnh Hương, Phạm Tú Anh // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 213 .- Tr. 82-88 .- 658.3

Nghiên cứu này tiến hành xem xét việc áp dụng Tự động hóa quy trình tự động (RPA - Robotic process automation) trong khu vực kiểm toán. Ngoài việc chứng minh ưu điểm của RPA cho việc phát triển nghề kiểm toán trong tương lai thì nghiên cứu còn đề xuất việc ứng dụng khung RPA (Hang và Vasarhelyi, 2019) nhằm giúp các kiểm toán viên giải phóng các công việc kiểm toán lặp đi lặp lại và khả năng đánh giá/phán đoán thấp, và cho phép kiểm toán viên tập trung vào các công việc đòi hỏi sự đánh giá/phán đoán chuyên nghiệp hơn trong bối cảnh hoạt động kiểm toán Việt Nam.

4759 Tác động của Cách mạng 4.0 tới dịch vụ kế toán Việt Nam / Nguyễn Thị Nga // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 213 .- Tr. 98-100 .- 658

Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 được nhận định là sẽ mang đến sự thay đổi cơ bản trên hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề, trong đó có ngành kế toán - kiểm toán. Bài viết đưa một số tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 tới dịch vụ kế toán Việt Nam, những cơ hội cũng như những thách thức trong thời gian tới, từ đó đưa ra một số khuyến nghị phù hợp với giai đoạn hiện tại.

4760 Ảnh hưởng của quyền sở hữu nước ngoài đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam / Hà Xuân Thạch, Trần Thị Thu, Đỗ Thị Hải Yến // Kế toán & Kiểm toán .- 2021 .- Số 213 .- Tr. 16-21 .- 658

Mục tiêu của bài viết là kiểm tra mối quan hệ giữa quyền sở hữu nước ngoài đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam thông qua phương pháp hồi quy phân vị. Với số liệu thu thập được trong giai đoạn từ 2015 – 2017 của 243 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, kết quả chỉ ra rằng quyền sở hữu nước ngoài ảnh hưởng tích cực tới thành quả hoạt động của doanh nghiệp và mức độ tác động này mạnh hơn tới doanh nghiệp có kết quả kinh doanh cao so với doanh nghiệp có kết quả kinh doanh thấp. Đồng thời, nhóm tác giả đề xuất một số kiến nghị liên quan tới doanh nghiệp và cơ quan Nhà nước.