CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
4621 Tác động của hoạt động xuất khẩu đến năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP): bằng chứng từ doanh nghiệp tại Việt Nam doanh nghiệp tại Việt Nam / Hoàng Thanh Hiền // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 289 .- Tr. 74-82 .- 658
Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là một trong những chỉ số quan trọng đo lường hiệu quả của nền kinh tế cũng như doanh nghiệp. Bài viết này nghiên cứu tác động của việc tham gia vào hoạt động xuất khẩu đến TFP của các doanh nghiệp tại Việt Nam với dữ liệu điều tra của Ngân hàng Thế giới năm 2015. Để phân tích mối quan hệ trên, chúng tôi đã tiến hành tính toán giá trị TFP của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu dựa trên 2 phương pháp bán tham số là phương pháp của Olley & Pakes (1996) và phương pháp của Levinsohn & Petrin (2003). Nghiên cứu cho thấy việc tham gia vào hoạt động xuất khẩu có tác động tích cực đến năng suất của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài cũng có năng suất cao hơn các doanh nghiệp khác. Ngược lại, các doanh nghiệp tư nhân lại thể hiện kém hơn so với các đối tác của mình.
4622 Tác động của chi phí thất bại tới động cơ, nhận thức từ khởi nghiệp thất bại và ý định tái khởi nghiệp của doanh nhân Việt Nam / Thái Thị Kim Oanh, Nguyễn Thị Kim Thoa // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 289 .- Tr. 93-102 .- 658
Mục tiêu của nghiên cứu này là khám phá tác động của chi phí thất bại (chi phí xã hội và chi phí tâm lý) đến động cơ tái khởi nghiệp, nhận thức từ khởi nghiệp thất bại và ý định tái khởi nghiệp của doanh nhân Việt Nam. Phân tích định lượng bằng mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM được tiến hành trên mẫu 334 các doanh nhân đã từng thất bại tại Việt Nam. Kết quả cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa chi phí thất bại mà cụ thể là chi phí xã hội, chi phí tâm lý ảnh hưởng đến động cơ tái khởi nghiệp và nhận thức khởi nghiệp, đồng thời ảnh hưởng gián tiếp đến ý định tái khởi nghiệp của doanh nhân.
4623 Thực trạng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam và một số khuyến nghị / Phạm Thị Hoàng Anh, Nguyễn Thị Lý, Lại Thu Hằng // Ngân hàng .- 2021 .- Số 12 .- Tr. 08-13 .- 332.042
Bài viết làm rõ thực trạng áp dụng IFRS tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua, trong đó tập trung vào điểm khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam (Vietnamese Accounting Standards - VAS) và IFRS trong BCTC của các ngân hàng thương mại Việt Nam
4624 Phát triển kinh tế số ở Việt Nam: những bước đi ban đầu và giải pháp / Hồ Quế Hậu // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 290 .- Tr. 1-11 .- 658
Bài viết này nhằm mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý thuyết, phân tích đánh giá thành tựu, hạn chế của những bước đi ban đầu phát triển kinh tế số và đề xuất một số giải pháp tiếp tục phát triển kinh tế số ở Việt Nam trong thời gian tới. Kết quả nghiên cứu cho thấy kinh tế số ở Việt Nam đã có những thành tựu bước đầu trên 5 lĩnh vực: phát triển mạng Internet, công nghệ thông tin, thương mại điện tử, thanh toán điện tử và kinh tế chia sẻ. Những lĩnh vực khác còn nhiều hạn chế do môi trường pháp luật chưa đồng bộ, nguồn nhân lực còn nhiều tồn tại, đầu tư công nghệ, đổi mới sáng tạo chưa thỏa đáng. Bài viết cũng đề xuất một số giải pháp cho sự phát trển kinh tế số cho thời gian tới.
4625 Dự báo tạo việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn Việt Nam theo ngành và vị thế việc làm giai đoạn 2021-2030 / Trần Văn Hòe, Nguyễn Ánh Tuyết, Phùng Mai Lan // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 290 .- Tr. 12-22 .- 330
Nghiên cứu này dự báo tạo việc làm tại chỗ cho lao động nông thôn Việt Nam giai đoạn 2021-2030. Trên cơ sở phương pháp hồi quy tương quan có tính đến yếu tố thời gian, nghiên cứu thực hiện ước lượng độ co giãn của việc làm tại chỗ theo thu nhập và dự báo việc làm tại chỗ theo bốn vị thế việc làm và ba nhóm ngành kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ co giãn của lao động gia đình và làm công ăn lương theo thu nhập ở ngành công nghiệp là co giãn nhất trong khi độ co giãn theo các vị thế việc làm ở ngành nông nghiệp đều ít co giãn. Từ 2021 đến 2030, việc làm tại chỗ khu vực nông thôn dự báo sẽ tăng từ 37,1 triệu năm 2021 đến 42,4 triệu năm 2030 với mức tăng mạnh trong ngành công nghiệp. Số lượng lao động làm công sẽ tăng mạnh nhất trong khi lao động gia đình sẽ giảm, lao động tự làm tăng chậm và nhường chỗ cho chủ cơ sở hoặc lao động làm công ăn lương.
4626 Áp dụng mô hình COSO trong hoạt động kiểm soát, kiểm toán quỹ tín dụng nhân dân / Trương Hồng Quang // Ngân hàng .- 2021 .- Số 12 .- Tr. 14-20 .- 332.3
Việc nghiên cứu, áp dụng chuẩn mực quốc tế để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại các quỹ tín dụng nhân dân hiện nay sẽ góp phần giúp QTDND phát huy hiệu quả quản lý rủi ro, bảo đảm tính bền vững và ổn định trong quản trị và điều hành, hạn chế các rủi ro trọng yếu, ngăn chặn tình trạng mất an toàn trong hoạt động và thất thoát tài sản. Bài viết đề cập đến vấn để hiệu quả hoạt động kiểm soát nội bộ ở các QTDND hiện nay, từ đó đề xuất nghiên cứu ứng dụng mô hình co so nhằm nâng cao chất lượng và hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của các QTDND
4627 Tầm quan trọng của logistics đối với xuất khẩu của Việt Nam / Huỳnh Thị Diệu Linh // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 290 .- Tr. 23-33 .- 658.001
Bài viết đánh giá tầm quan trọng của logistics đối với xuất khẩu của Việt Nam với 48 đối tác xuất khẩu lớn trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2018. Dựa trên mô hình lực hấp dẫn (Gravity Model), nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp hồi quy khác nhau để kiểm định tính bền vững của kết quả. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định logistics có tầm quan trọng rất lớn đến xuất khẩu của Việt Nam. Cụ thể, hiệu suất hoạt động logistics của cả Việt Nam và các nước đối tác đều có tác động tích cực đến xuất khẩu của Việt Nam sang các đối tác thương mại chính, và mức độ tác động của logistics là lớn hơn các yếu tố khác trong mô hình nghiên cứu.
4628 Các nhân tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng thương mại Việt Nam / Tô Trung Thành, Hồ Hải Yến // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 290 .- Tr. 34-44 .- 332.12
Sử dụng số liệu từ 34 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2018 (thời gian trải qua hai lần tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại theo đề án 254/QĐ-TTg cho giai đoạn 2011-2015 và đề án 1058/QĐ-TTg cho giai đoạn 2016-2020), nghiên cứu này xem xét các yếu tố tác động đến tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của các ngân hàng thương mại Việt Nam bằng phương pháp S-GMM. Kết quả cho thấy các nhân tố tác động đến CAR gồm: (i) Các nhân tố kinh tế vĩ mô: lãi suất, lạm phát (ii) Các nhân tố đặc trưng của ngân hàng: CAR năm trước, quy mô ngân hàng, tỷ lệ tiền gửi, tài sản chứng khoán đầu tư dài hạn, ROE và (iii) hai giai đoạn tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại. Các kết quả này mở ra hàm ý chính sách trong giai đoạn tới nhằm giúp các ngân hàng thương mại điều chỉnh CAR phù hợp với điều kiện của từng ngân hàng và bối cảnh kinh tế.
4629 Thực trạng triển khai ngân hàng số trên địa bàn thành phố Đà Nẵng / Võ Minh // Ngân hàng .- 2021 .- Số 12 .- Tr. 37-41 .- 332.109597
Xây dựng thành công ngân hàng số sẽ mang lại nhiều lợi ích cho các ngân hàng như: Tự động hóa các quy trình nghiệp vụ giúp giảm chi phí giao dịch, chi phí quản lý, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, mờ rộng kênh phân phối, tiếp cận và khai thác dữ liệu lớn, phong phú từ hệ sinh thái số để thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu về khách hàng và đối thủ cạnh tranh, hồ trợ cho quá trình ra quyết định của các ngân hàng
4630 Cấu trúc sở hữu và mức độ chấp nhận rủi ro: Trường hợp các công ty niêm yết Việt Nam / Nguyễn Thị Minh Huệ, Nguyễn Hữu Trúc // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 290 .- Tr. 45-54 .- 658.001
Bài báo này nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu đến mức độ chấp nhận rủi ro. Sử dụng dữ liệu gồm 577 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2007-2017, kết quả hồi quy cho thấy sở hữu nhà nước (nước ngoài) tác động nghịch chiều (thuận chiều) đến mức độ chấp nhận rủi ro. Kết quả này ủng hộ cho quan điểm sở hữu nhà nước có các mục tiêu khác ngoài tối đa hóa giá trị công ty đồng thời liên quan đến một cơ chế bồi thường kém, do đó hạn chế công ty tham gia vào các dự án rủi ro. Sở hữu nước ngoài thúc đẩy đa dạng hóa đầu tư và cải thiện quản trị công ty, dẫn đến công ty chấp nhận rủi ro nhiều hơn.