CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
4621 Nâng cao chất lượng nhân lực của các quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam / Đào Minh Phúc // Ngân hàng .- 2021 .- Số 11 .- Tr. 31-35 .- 332.3

Việc tìm kiếm các giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực phù hợp với đặc trưng riêng của quỹ tín dụng nhân dân là rất cần thiết giúp các tổ chức này tiếp tục phát triển bến vững trong bối cảnh mới. Trên cơ sở đó, bài viết đề cập thực trạng nâng cao chất lượng nhân lực tại các quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam và một số gợi ý nhằm nâng cao chất lượng nhân lực của các quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam

4622 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của hệ thống TABMIS trong công tác quản lý ngân sách tại các kho bạc trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh / Trịnh Thị Huyền Thương, Mai Thanh Sơn // Ngân hàng .- 2021 .- Số 11 .- Tr. 42-49 .- 330

Bài viết xác định và kiểm nghiệm mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến tính hiệu quả của hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc (TABMIS) trong công tác quản lý ngân sách tại các kho bạc trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

4623 Tuổi giám đốc điều hành và hành vi quản trị lợi nhuận ở Việt Nam / // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 289 .- Tr. 35-44 .- 658

Nghiên cứu này được thúc đẩy bởi bằng chứng của các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng những người lớn tuổi thực hiện hành vi đạo đức và bảo thủ hơn những người trẻ tuổi. Chúng tôi giả định rằng nếu các lãnh đạo lớn tuổi có đạo đức và bảo thủ hơn các lãnh đạo trẻ hơn, họ sẽ ít có khả năng thúc đẩy các hành vi quản trị lợi nhuận. Sử dụng mẫu gồm tất cả các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty có giám đốc điều hành càng lớn tuổi thường có xu hướng ít thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận. Kết quả này nhấn mạnh tầm quan trọng của tuổi của giám đốc điều hành công ty đối với kết quả hoạt động của doanh nghiệp nói chung và mức độ thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận nói riêng, cũng như cung cấp những hàm ý chính sách có giá trị tham khảo đối với các nhà hoạch định chính sách và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

4624 Hội nhập tài chính và đói nghèo ở các nước đang phát triển khu vực Châu Á / // Ngân hàng .- 2021 .- Số 11 .- Tr. 55-59 .- 332.024

Bài viết đánh giả xu thế toàn cầu hóa tài chính và tình trạng đói nghèo ở các nước đang phát triến khu vực châu Ả trong giai đoạn 2005 - 2020. Từ đó, bài viết đưa ra những nhận xét về mối quan hệ giữa hội nhập tài chính và đói nghèo của các quốc gia này. Cuối cùng, nhóm tác giả đề xuất một sổ khuyến nghị chính sách nhằm tối ưu hóa lợi ích của quá trình hội nhập tài chính quốc tế đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo

4625 Các nhân tố tác động tới chất lượng thể chế khu vực Châu Á giai đoạn hậu khủng hoảng kinh tế toàn cầu / Đinh Thị Thanh Vân, Trần Thị Phương Dịu // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 289 .- Tr. 45-54 .- 658

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng bao gồm 16 quốc gia khu vực Châu Á, giai đoạn 2007-2017 để đánh giá các nhân tố tác động tới chất lượng thể chế. Mô hình nghiên cứu sử dụng đánh giá tác động cố định và hồi quy hệ thông hai giai đoạn GMM cho phép xử lý các yếu tố không quan sát được, không thay đổi theo thời gian và hiện tượng nhân quả đồng thời giữa tăng trưởng kinh tế tới chất lượng thể chế. Bên cạnh thu nhập bình quân đầu người, hai nhóm biến được xem xét bao gồm các yếu tố vĩ mô và các yếu tố liên quan đến quản trị nhà nước. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tăng trưởng kinh tế kết hợp với sự ổn định các thông số vĩ mô tác động mạnh mẽ tới cải thiện chất lượng thể chế. Hơn nữa, ngược lại với tác động không rõ ràng của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), cấu trúc nguồn thu ngân sách của chính phủ có ảnh hưởng rõ ràng tới chất lượng thể chế.

4626 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế : trường hợp nghiên cứu ở các nước ASEAN / Nguyễn Phúc Hiền, Lê Thùy Linh // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 289 .- Tr. 55-64 .- 658

Nghiên cứu này nhằm xem xét tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng trưởng kinh tế của 10 nước ASEAN (bao gồm Singapore, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philippine, Brunei, Myanmar, Campuchia, Lao và Việt Nam) trong một thập kỷ từ sau khủng hoảng tài chính (2008). Trên cơ sở hàm sản xuất Cobb-Douglas, chúng tôi xây dựng mô hình ược lượng nghiên cứu ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế. Bằng việc sử dụng mô hình dữ liệu bảng với các phương pháp Pool OLS, Fixed Effects và Random Effects để nghiên cứu sự tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế của 10 nước thuộc khối ASEAN. Kết quả cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài không có ý nghĩa đến tăng trưởng kinh tế ở các nước ASEAN giai đoạn 2009-2018, trong khi đó lao động và xuất nhập khẩu đóng góp tới sự tăng trưởng kinh tế của những nước này.

4627 Marketing bền vững và ứng dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam / Nguyễn Viết Lâm // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 289 .- Tr. 65-73 .- 658

Trên nền tảng của những thông tin thứ cấp, nghiên cứu này bắt đầu từ việc phân tích vai trò của phát triển bền vững trong thế giới ngày nay; chỉ ra sự cần thiết phải vận hành, phát triển loại hình marketing, khác biệt với marketing truyền thống của các doanh nghiệp, phục vụ cho phát triển bền vững. Nghiên cứu cũng chỉ ra bản chất của marketing bền vững là nhấn mạnh giá trị gia tăng cho khách hàng cũng như thiết lập mối quan hệ khách hàng lâu dài, có lợi cho doanh nghiệp, xã hội và môi trường. Theo kết quả nghiên cứu, marketing bền vững chịu tác động của nhiều nhân tố khác nhau thuộc môi trường bên trong và bên ngoài, đồng thời việc ứng dụng marketing bền vững trong các doanh nghiệp vừa có nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn. Từ nhận thức bản chất của marketing bền vững, các nhân tố ảnh hưởng, các cơ hội và thách thức; nghiên cứu đã đề xuất các vấn đề chiến lược và các giải pháp để tạo nên thành công của marketing bền vững trong các doanh nghiệp Việt Nam.

4628 Tác động của hoạt động xuất khẩu đến năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP): bằng chứng từ doanh nghiệp tại Việt Nam doanh nghiệp tại Việt Nam / Hoàng Thanh Hiền // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 289 .- Tr. 74-82 .- 658

Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là một trong những chỉ số quan trọng đo lường hiệu quả của nền kinh tế cũng như doanh nghiệp. Bài viết này nghiên cứu tác động của việc tham gia vào hoạt động xuất khẩu đến TFP của các doanh nghiệp tại Việt Nam với dữ liệu điều tra của Ngân hàng Thế giới năm 2015. Để phân tích mối quan hệ trên, chúng tôi đã tiến hành tính toán giá trị TFP của các doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu dựa trên 2 phương pháp bán tham số là phương pháp của Olley & Pakes (1996) và phương pháp của Levinsohn & Petrin (2003). Nghiên cứu cho thấy việc tham gia vào hoạt động xuất khẩu có tác động tích cực đến năng suất của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài cũng có năng suất cao hơn các doanh nghiệp khác. Ngược lại, các doanh nghiệp tư nhân lại thể hiện kém hơn so với các đối tác của mình.

4629 Tác động của chi phí thất bại tới động cơ, nhận thức từ khởi nghiệp thất bại và ý định tái khởi nghiệp của doanh nhân Việt Nam / Thái Thị Kim Oanh, Nguyễn Thị Kim Thoa // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 289 .- Tr. 93-102 .- 658

Mục tiêu của nghiên cứu này là khám phá tác động của chi phí thất bại (chi phí xã hội và chi phí tâm lý) đến động cơ tái khởi nghiệp, nhận thức từ khởi nghiệp thất bại và ý định tái khởi nghiệp của doanh nhân Việt Nam. Phân tích định lượng bằng mô hình cấu trúc tuyến tính PLS-SEM được tiến hành trên mẫu 334 các doanh nhân đã từng thất bại tại Việt Nam. Kết quả cho thấy có mối quan hệ tích cực giữa chi phí thất bại mà cụ thể là chi phí xã hội, chi phí tâm lý ảnh hưởng đến động cơ tái khởi nghiệp và nhận thức khởi nghiệp, đồng thời ảnh hưởng gián tiếp đến ý định tái khởi nghiệp của doanh nhân.

4630 Thực trạng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế tại các ngân hàng thương mại Việt Nam và một số khuyến nghị / Phạm Thị Hoàng Anh, Nguyễn Thị Lý, Lại Thu Hằng // Ngân hàng .- 2021 .- Số 12 .- Tr. 08-13 .- 332.042

Bài viết làm rõ thực trạng áp dụng IFRS tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua, trong đó tập trung vào điểm khác biệt giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam (Vietnamese Accounting Standards - VAS) và IFRS trong BCTC của các ngân hàng thương mại Việt Nam