CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
4601 Các nhân tố ảnh hưởng đến chiến lược hội nhập theo chiều ngang của các doanh nghiệp nhỏ tại TP. Hồ Chí Minh / Nguyễn Văn Tuyên, Phạm Đình Dzu // Tài chính - Kỳ 1 .- 2021 .- Số 762 .- Tr. 137-141 .- 658

Bài viết này kiểm định mô hình nghiên cứu để phân tích các yếu tố tác động đến rủi ro trong chiến lược hội nhập theo chiều ngang của các doanh nghiệp (DN) nhỏ tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu cho thấy, yếu tố rủi ro trong chiến lược hội nhập theo chiều ngang của các DN tại TP. Hồ Chí Minh chịu sự tác động của 6 yếu tố, theo thứ tự giảm dần gồm: (i) Theo đuổi sự tương quan viển vông; (ii) Hiểu sai vị thế đối thủ cạnh tranh; (iii) Theo đuổi mối tương quan nhỏ, ít ảnh hưởng; (iv) Hiểu sai sự đóng góp từ các đơn vị kinh doanh; (v) Ảnh hưởng tiêu cực trong chuyển giao bí quyết; (vi) Sai lầm trong quản lý danh mục sản phẩm.

4602 Quản trị tài sản trí tuệ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa / Nguyễn Ngọc Phương Hồng, Lưu Minh Sang // Khoa học và Công nghệ Việt Nam A .- 2021 .- Số 7(748) .- Tr. 9-12 .- 650

Trình bày công cuộc chuyển đổi số trong thực hiện thủ tục đăng ký quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) được triển khai cùng với các chương trình tuyên truyền, phổ biến về tài sản trí tuệ. Trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là một tài sản vô hình có vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME). Vấn đề quản trị tài sản trí tuệ trở thành một trong những khía cạnh có ý nghĩa quyết định đến sự tăng trưởng của các SME.

4603 Thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam: Thuận lợi, khó khăn và hàm ý chính sách / Võ Thị Hồng Lan // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 597 .- Tr. 7 - 9 .- 658

Nghiên cứu phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tư tại Việt Nam, làm rõ những thuận lợi và khó khăn và gợi ý các hàm ý chính sách nhằm cải thiện hoạt động thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nâng cao nguồn vốn, đảm bảo tăng trưởng kinh tế bền vững trong thời kỳ hội nhập.

4604 Phương pháp phân tích thành phần chính và ứng dụng trong xây dựng chỉ số đổi mới sáng tạo: tiếp cận từ các doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo tại Việt Nam / Chu Thị Mai Phương, Lê Đức Đàm // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 597 .- Tr. 13 - 15 .- 658

Trình bày một phương pháp hiệu quả trong xử lý số liệu nhiều chiều là phương pháp phân tích thành phần chính. Sau đó, bài viết áp dụng phương pháp này để xây dựng chỉ số đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp ngành chế biến chế tạo tại Việt Nam.

4605 Tác động của tiền gửi từ di cư nội địa đến khả năng sử dụng dịch vụ ngân hàng của hộ gia đình ở Việt Nam / Nguyễn Thị Hoài Thu, Bùi Huy Nhượng // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 288 .- Tr. 14-22 .- 658

Nghiên cứu này đánh giá tác động của việc nhận tiền gửi từ di cư nội địa đến tài chính toàn diện ở Việt Nam, biểu hiện qua khả năng sử dụng các dịch vụ ngân hàng của hộ gia đình. Kết quả từ phương pháp bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn (2SLS) cho thấy nhìn chung việc nhận được tiền gửi làm tăng khả năng hộ có tài khoản tại ngân hàng và sử dụng các dịch vụ thẻ do ngân hàng cung cấp. Xét theo khu vực nông thôn và thành thị, nhận tiền gửi từ di cư nội địa làm tăng khả năng mở tài khoản ngân hàng của hộ ở cả hai khu vực. Tuy nhiên, nhận được tiền gửi từ di cư nội địa chỉ có tác động làm tăng khả năng sử dụng dịch vụ thẻ đối với các hộ ở khu vực nông thôn. Kết quả nghiên cứu này cho thấy vai trò tích cực của tiền gửi từ di cư nội địa trong việc tăng khả năng sử dụng các dịch vụ ngân hàng của hộ gia đình, từ đó góp phần tăng cường tài chính toàn diện ở Việt Nam.

4606 Đặc tính an toàn của trái phiếu chính phủ: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam / Lý Đại Hùng, Bùi Thị Hải Anh // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 288 .- Tr. 23-32 .- 658

Nghiên cứu này phân tích các yếu tố chi phối đặc tính an toàn của trái phiếu Chính phủ, dựa trên một bộ dữ liệu mảng gồm 147 nền kinh tế giai đoạn 1990-2016. Với phương pháp hồi quy với hiệu ứng cố định và với biến công cụ, bằng chứng thực nghiệm chỉ ra rằng nền tảng kinh tế vĩ mô, dựa trên tăng trưởng, lạm phát và quy mô thị trường, tương tác với chất lượng thể chế cùng chi phối đặc tính an toàn của trái phiếu Chính phủ. Phân tích trường hợp điển hình chỉ ra rằng độ an toàn trong thực tế của trái phiếu Chính phủ Việt Nam đang được đánh giá thấp hơn so với dự báo bằng mô hình định lượng, trong khi điều ngược lại xảy ra đối với trái phiếu Chính phủ Hoa Kỳ và Thái Lan. Từ đó, bài báo khuyến nghị rằng đối với nền kinh tế Việt Nam, ổn định mức lạm phát thấp và tăng cường hiệu quả quản trị hành chính công giữ vai trò then chốt để nâng cao đặc tính an toàn của trái phiếu Chính phủ.

4607 Các nhân tố tác động đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp logistics và chuỗi cung ứng tại Việt Nam / Cao Cẩm Linh // Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương .- 2021 .- Số 597 .- Tr. 16 - 18 .- 658

Nghiên cứu các yếu tố tác động đến năng lực đổi mới của doanh nghiệp logistics và chuỗi cung ứng, đưa ra một số khuyến nghị nhằm năng lực đổi mới của doanh nghiệp logistics và chuỗi cung ứng tại Việt Nam trong thời gian tới.

4608 Ảnh hưởng của áp lực thể chế đến chiến lược xuất khẩu thân thiện môi trường, hợp tác trong chuỗi cung ứng và lợi thế cạnh tranh tại các doanh nghiệp dệt may / Đỗ Thị Bình, Trần Văn Trang // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 288 .- Tr. 33-42 .- 658

Là một trong những ngành kinh tế quan trọng nhất trên thế giới, tác động có hại của ngành dệt may đến môi trường và xã hội ngày càng gia tăng, đòi hỏi các doanh nghiệp cần có các chiến lược môi trường nói chung và chiến lược xuất khẩu thân thiện môi trường nói riêng. Mục tiêu của nghiên cứu là kiểm định ảnh hưởng của các áp lực thể chế đến chiến lược xuất khẩu thân thiện môi trường, hợp tác trong chuỗi cung ứng và lợi thế cạnh tranh. Dữ liệu được thu thập từ 191 nhà quản lý của các doanh nghiệp dệt may và được phân tích bằng PLS SEM. Kết quả cho thấy các áp lực thị trường, áp lực qui chuẩn và áp lực cạnh tranh ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc theo đuổi chiến lược xuất khẩu thân thiện môi trường của công ty. Đặc biệt, chiến lược này gia tăng hợp tác trong chuỗi cung ứng và do đó giúp công ty đạt được lợi thế cạnh tranh. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một số hàm ý về quản lý và chính sách.

4609 Đề xuất mô hình đo lường thông tin bất cân xứng của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh / Phan Bùi Gia Thủy, Nguyễn Trần Phúc, Ngô Vi Trọng // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 288 .- Tr. 43-53 .- 658

Nghiên cứu được thực hiện với mục đích đo lường thông tin bất cân xứng của các công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) giai đoạn 2009- 2015, từ đó đề xuất mô hình đo lường phù hợp ở thị trường chứng khoán Việt Nam. Bằng cách sử dụng các mô hình kinh tế lượng để đo lường thông tin bất cân xứng và phương pháp ước lượng hệ số tương quan, kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình theo biến chỉ báo của George & cộng sự (1991) là mô hình phù hợp có thể được áp dụng để đo lường thông tin bất cân xứng trong bối cảnh ở Việt Nam.

4610 Chất lượng nguồn nhân lực và việc làm của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam / Bùi Quang Tuyến, Đỗ Vũ Phương Anh // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 288 .- Tr. 54-63 .- 658

Mục tiêu chính của bài viết nhằm phân tích thực trạng chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng công việc của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam. Bài viết sử dụng dữ liệu điều tra lao động việc làm năm 2018. Kết quả cho thấy người lao động trong doanh nghiệp nhà nước có trình độ học vấn và kỹ năng cao hơn so với người lao động ở các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Bên cạnh đó, mức lương trung bình và trung vị là cao hơn ở các doanh nghiệp nhà nước. Phân tích hồi quy logit đa thức cho thấy trình độ học vấn có tác động đáng kể tới lựa chọn công việc ở doanh nghiệp nhà nước so với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Với người lao động trong doanh nghiệp nhà nước, trình độ giáo dục cao hơn giúp họ có được công việc tốt hơn như được ký hợp đồng lao động dài hơn và được đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc. Phát hiện nghiên cứu hàm ý rằng chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng với quyết định lựa chọn công việc và chất lượng công việc của các cá nhân ở Việt Nam.