CSDL Bài trích Báo - Tạp chí

Khoa Quản Trị Kinh Doanh

  • Duyệt theo:
4461 Phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 / Nguyễn Văn Tùng // Tài chính - Kỳ 1 .- 2021 .- Số 752 .- Tr. 13-17 .- 330

Nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tuần hoàn trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, thời gian tới, Việt Nam cần xây dựng đồng bộ các giải pháp từ nâng cao nhận thức đến hoàn thiện thể chế pháp lý tổ chức thực hiện. Đặc biệt, chú ý đến các giải pháp gắn kết kinh tế tuần hoàn với ứng dụng thành tựu Cách mạng công nghiệp 4.0, thúc đẩy kinh tế số, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, tăng cường tiếp cận và tiếp nhận chuyển giao công nghệ để phát triển bền vững.

4462 Chính sách tài chính đối với kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam / Nguyễn Hồng Thắng // Tài chính - Kỳ 1 .- 2021 .- Số 752 .- Tr. 18-22 .- 332.1

Kinh tế tuần hoàn hay kinh tế xanh là xu hướng tất yếu hướng tới của các quốc gia khi nguồn tài nguyên trên thế giới ngày càng cạn kiệt. Việt Nam tuy đạt được những thành quả về phát triển bền vững, nhưng cùng với đó cũng phải đối diện với lượng chất thải phát sinh ngày càng lớn, nguyên liệu thô, nguyên liệu hóa thạch cạn kiệt... Vì vậy, việc lựa chọn nền kinh tế tuần hoàn là yêu cầu tất yếu của Việt Nam nhằm khắc phục hạn chế của mô hình tăng trưởng tuyến tính truyền thống. Bài viết này, tác giả khái quát cơ chế, chính sách chung về kinh tế tuần hoàn; phân tích, làm rõ vai trò của chính sách tài chính đối với phát triển kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam; đồng thời, định hướng hoàn thiện chính sách tài chính đối với kinh tế tuần hoàn trong giai đoạn mới.

4463 Phát triển tín dụng xanh góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam / Trần Thị Xuân Anh, Trần Thị Thu Hương // Tài chính - Kỳ 1 .- 2021 .- Số 752 .- Tr. 23-27 .- 332.1

Kinh tế tuần hoàn là xu thế tất yếu và đã được xác định là mục tiêu mà Việt Nam hướng tới. Thực hiện kinh tế tuần hoàn thể hiện trách nhiệm quốc tế của Việt Nam trong vấn đề bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu, hỗ trợ doanh nghiệp giảm rủi ro về khủng hoảng thừa sản phẩm, khan hiếm tài nguyên, tạo động lực để đầu tư, đổi mới công nghệ. Nhiều cơ chế, chính sách đã được Việt Nam ban hành nhằm thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, trong đó có phát triển tín dụng xanh. Bài viết đánh giá thực trạng phát triển tín dụng xanh ở Việt Nam và đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển tín dụng xanh góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn ở Việt Nam.

4464 Ảnh hưởng của môi trường thông tin doanh nghiệp đối với đồng biến động thanh khoản cổ phiếu / Đặng Tùng Lâm // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 292 .- Tr. 19-26 .- 332.64

Bài viết này nghiên cứu ảnh hưởng của môi trường thông tin doanh nghiệp đối với đồng biến động thanh khoản cổ phiếu. Sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán của 35 quốc gia, kết quả từ nghiên cứu cho thấy môi trường thông tin doanh nghiệp có tương quan nghịch với đồng biến động thanh khoản cổ phiếu. Kết quả này ủng hộ cho quan điểm rằng khi môi trường thông tin của doanh nghiệp minh bạch, nhà đầu tư sẽ có xu hướng giao dịch trên các cổ phiếu đơn lẻ, thay vì theo rổ cổ phiếu để phân tán rủi ro, dẫn đến thanh khoản cổ phiếu ít đồng biến động với thị trường.

4465 Ảnh hưởng của tín dụng công nghệ tài chính đến rủi ro tín dụng của ngân hàng : bằng chứng thực nghiệm quốc tế / Trần Hùng Sơn, Nguyễn Thị Hồng Vân // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 292 .- Tr. 29-36 .- 332.12

Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của tín dụng từ công nghệ tài chính đến rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng của 72 quốc gia trong giai đoạn 2013-2018. Kết quả nghiên cứu cho thấy tín dụng từ công nghệ tài chính làm giảm rủi ro tín dụng của hệ thống ngân hàng các nước thông qua việc giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Từ kết quả nghiên cứu này, bài viết khuyến nghị một số hàm ý chính sách.

4466 Tác động của ô nhiễm không khí lên chi tiêu y tế ở Việt Nam / Nguyễn Thị Phương // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 292 .- Tr. 37-45 .- 657

Nghiên cứu xem xét mức chi tiêu y tế tại Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2016 đồng thời đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường lên cầu y tế của các cá nhân trong điều tra khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS). Kết quả trước tiên chỉ ra chi tiêu y tế trung bình của các cá nhân tăng từ 1,36 triệu đồng năm 2010 lên 2,76 triệu đồng năm 2016. Mức chi tiêu y tế của các hộ gia đình trong giai đoạn nghiên cứu chiếm khoảng 3-4% tổng thu nhập của các hộ. Thứ hai, nghiên cứu tìm thấy rằng việc mua bảo hiểm y tế làm gia tăng chi tiêu y tế của người mua. Thứ ba, ô nhiễm không khí tác động nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng và gây thiệt hại thu nhập quốc dân khoảng 3,1% trong giai đoạn nghiên cứu.

4467 Thu nhập phi nông nghiệp của hộ dân cư vùng đồng bằng Sông Cửu Long / Nguyễn Tuấn Kiệt, Trịnh Công Đức, Từ Minh Lý // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 292 .- Tr. 68-77 .- 330

Mục tiêu của bài viết là cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp của hộ dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn 2012 đến 2016. Bài viết sử dụng số liệu khảo sát mức sống hộ dân cư gồm 5.715 quan sát. Kết quả phân tích cho thấy tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp tổng hợp, tỷ lệ thu nhập tự kinh doanh, tỷ lệ thu nhập từ việc làm phi nông nghiệp biến động tăng trong giai đoạn 2012-2016. Ước lượng Tobit cho thấy tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp tương quan cùng chiều với tổng thu nhập. Đồng thời nhân tố tuổi, nam giới, diện tích đất, số rủi ro, tiền trợ cấp tác động làm giảm tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp nhưng trình độ và số thành viên tác động làm tăng tỷ lệ thu nhập phi nông nghiệp. Kết quả này có ý nghĩa quan trọng cho các địa phương xây dựng chiến lược nâng cao thu nhập theo hướng gia tăng kinh tế phi nông nghiệp ở cấp độ hộ.

4468 Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam: So sánh sự khác biệt giới tính và khối ngành / Nguyễn Đình Toàn, Phạm Thị Huyền // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 292 .- Tr. 89-100 .- 658

Nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ý định khởi nghiệp của sinh viên và kiểm định ảnh hưởng của hai biến kiếm soát là giới tính và khối ngành sinh viên theo học tới ý định đó. Trên cơ sở dữ liệu khảo sát 204 sinh viên, các phân tích đã chỉ ra rằng có 03 nhân tố tác động đến ý định khởi nghiệp của sinh viên với mức độ ảnh hưởng giảm dần từ (1) Sự tự tin vào năng lực bản thân;(2) Nhu cầu thành tích; và (3) Sự sẵn sàng của các nguồn lực. Trong đó, nam có ý định khởi nghiệp nhiều hơn so với nữ; sinh viên kinh tế có ý định khởi nghiệp nhiều hơn so với kỹ thuật. Ý định khởi nghiệp của sinh viên nữ chịu ảnh hưởng không nhiều bởi nhu cầu thành tích trong khi với sinh viên nam, đây lại yếu tố quan trọng. Ý định khởi nghiệp của sinh viên kỹ thuật chiu ảnh hưởng bởi nhu cầu thành tích trong khi không kết luận được sự ảnh hưởng tới ý định khởi nghiệp của sinh viên kinh tế.

4469 Tiếp cận dịch vụ ngân hàng số của hộ kinh doanh du lịch cộng đồng ở Tây Bắc, Việt Nam / // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 292 .- Tr. 780-88 .- 332.12

Bài viết sử dụng mô hình probit lưỡng biến nhị phân dường như không liên quan (SUBP) và biến công cụ để phân tích nhu cầu và yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận các dịch vụ ngân hàng số của hộ kinh doanh du lịch cộng đồng tại vùng Tây Bắc, Việt Nam. Kết quả cho thấy mặc dù điện thoại thông minh kết nối internet được sử dụng rất phổ biến, các hộ vẫn cần trực tiếp đến chi nhánh ngân hàng, các tổ chức chính trị xã hội, chính quyền địa phương để thực hiện các giao dịch với ngân hàng. Thanh toán bằng tiền mặt là phương thức phổ biến của du khách trong nước và quốc tế. Những hộ sử dụng điện thoại thông minh trong thanh toán, là thành viên hội liên hiệp phụ nữ, sở hữu homestay và có liên kết du lịch có khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng cao hơn các hộ khác. Ngoài ra, khoảng 91-97% hộ có nhu cầu sử dụng các dịch vụ ngân hàng số với điều kiện sự an toàn, tiện lợi cần được đảm bảo với mức phí hợp lý.

4470 Nghiên cứu hành vi sử dụng dịch vụ thanh toán di động ở Việt Nam: Sử dụng mô hình META-UTAUT / Nguyễn Thị Thùy Vinh, Nguyễn Hồng Anh, Nguyễn Thanh Hiền Lương // Kinh tế & phát triển .- 2021 .- Số 292 .- Tr. 46-56 .- 332.12

Nghiên cứu này tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ thanh toán di động của người tiêu dùng Việt Nam, khi thị trường thanh toán di động đang phát triển mạnh, thông qua một mô hình mới được đề xuất là meta-UTAUT. Khảo sát được thực hiện với 231 người tiêu dùng và giả thuyết được kiểm định bằng mô hình phương trình cấu trúc (SEM). Kết quả cho thấy kỳ vọng hiệu quả và ý định sử dụng có tác động tích cực đến hành vi sử dụng. Ý định sử dụng được giải thích bởi thái độ và điều kiện thuận lợi. Nghiên cứu này đã kiểm tra lại mô hình mới meta-UTAUT, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm phát triển thị trường thanh toán di động ở Việt Nam.