CSDL Bài trích Báo - Tạp chí
Khoa Quản Trị Kinh Doanh
4451 Ảnh hưởng của thông tin kế toán quản trị đến thành quả công việc của nhà quản lý : vai trò trung gian của vốn tâm lý / Nguyễn Hữu Bình, Nguyễn Bích Liên, Nguyễn Phong Nguyên // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 7 .- Tr. 55-72 .- 657
Nghiên cứu này kiểm định vai trò của thông tin được cung cấp bởi hệ thống kế toán quản trị trong việc nâng cao thành quả công việc của nhà quản lý trong doanh nghiệp. Thông tin kế toán quản trị được tiếp cận ở góc độ mức độ sử dụng các đặc tính chất lượng thông tin của nhà quản lý. Thành quả của nhà quản lý được tiếp cận ở khía cạnh hành vi, gồm thành quả nhiệm vụ và thành quả theo ngữ cảnh. Kết quả phân tích PLS-SEM trên cơ sở dữ liệu khảo sát từ 134 nhà quản lý các cấp trong các doanh nghiệp tại Việt Nam chỉ ra rằng mức độ sử dụng thông tin kế toán quản trị góp phần phát triển năng lực tâm lý tích cực, từ đó tác động tích cực đến thành quả công việc của nhà quản lý. Kết quả nghiên cứu này bổ sung vào cơ sở lý thuyết trong các nghiên cứu kế toán quản trị về các yếu tố trung gian trong mối quan hệ giữa thông tin kế toán quản trị và thành quả công việc của nhà quản lý.
4452 Các yếu tố thành công chủ yếu của dự án hợp tác công - tư (PPP): Nghiên cứu thực nghiệm tại tỉnh Đồng Nai / Dương Thị Bình Minh, Huỳnh Anh Tú // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 7 .- Tr. 28-54 .- 332.1
Nghiên cứu này nhằm mục đích xác định các yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành công của mô hình dự án hợp tác công - tư tại (Public-Private Partnership – PPP) tỉnh Đồng Nai. Tổng cộng có 208 phiếu khảo sát hợp lệ được thu thập từ những người công tác trong lĩnh vực liên quan đến dự án PPP ở cả khu vực công lẫn khu vực tư. Sau khi phân tích nhân tố khám phá (EFA), đã xác định được bảy yếu tố quan trọng nhất dẫn đến sự thành công của dự án hợp tác công - tư là: (1) tập trung lãnh đạo, (2) phân bổ rủi ro và chính sách kinh tế, (3) phản hồi từ các dự án, (4) các yếu tố kinh tế - xã hội thuận lợi, (5) quản trị và hỗ trợ chính trị tốt, (6) thời hạn xây dựng ngắn, và (7) cung cấp các dịch vụ công cần thiết. Nghiên cứu này cho thấy các dự án sử dụng phương thức hợp tác công - tư có thể hiệu quả hơn nếu khu vực công và khu vực tư chú ý nhiều hơn đến các yếu tố này trong quá trình thực hiện.
4453 Chiến lược xuất khẩu xanh của các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam : các yếu tố ảnh hưởng, lợi thế cạnh tranh, và hiệu suất tài chính / Đỗ Thị Bình // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 7 .- Tr. 5-27 .- 658
Chuyển dịch chiến lược theo hướng xanh là xu thế của nhiều doanh nghiệp (DN) nhằm đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi từ qui định, luật lệ, tiêu chuẩn… về môi trường; từ cạnh tranh; và từ thị trường. Phân tích dữ liệu điều tra 238 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản Việt Nam (DNCBTS) bằng phần mềm PLS SEM cho thấy sự nhạy cảm của các nhà quản lý về vấn đề môi trường, áp lực thị trường, áp lực từ qui định, tiêu chuẩn, và áp lực từ cạnh tranh ảnh hưởng đến việc theo đuổi chiến lược xuất khẩu xanh (CLXKX) của các DNCBTS; và việc theo đuổi chiến lược này tác động mạnh mẽ đến lợi thế cạnh tranh đạt được cũng như hiệu suất tài chính của các DN. Một số hàm ý, kiến nghị đối với các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý các DNCBTS đã được đưa ra để thúc đẩy việc ứng dụng CLXKX của các DN này, hướng tới phát triển bền vững.
4454 Tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ điện, tỉ lệ đô thị hóa và dấu chân sinh thái : thực nghiệm ở các nước ASEAN / // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 8 .- Tr. 5-24 .- 330
Mục đích của nghiên cứu này là phân tích tác động của tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ điện và tỉ lệ đô thị hóa đến dấu chân sinh thái ở các nước ASEAN trong giai đoạn 1981-2016. Nghiên cứu ứng dụng ba mô hình ước lượng cho dữ liệu bảng gồm: Mean Group (MG), Pooled Mean Group (PMG) và Dynamic Fixed Effects (DFE). Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình cho thấy mô hình PMG là phù hợp nhất. Theo đó, tăng trưởng kinh tế và tỉ lệ đô thị hóa có tác động tích cực đến dấu chân sinh thái cả trong ngắn hạn và dài hạn. Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm cũng chỉ ra tiêu thụ điện không tác động đến dấu chân sinh thái trong ngắn hạn, nhưng có tác động tiêu cực trong dài hạn. Hàm ý quan trọng được rút ra từ kết quả của nghiên cứu là các nhà hoạch định chính sách cần đánh giá toàn diện các tác động của những chính sách thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đối với môi trường tự nhiên, nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững.
4455 Khảo sát sự thay đổi về mối liên hệ giữa các thị trường chứng khoán Đông Nam Á trong giai đoạn COVID-19 : tiếp cận bằng lý thuyết thông tin / Trần Thị Tuấn Anh // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 8 .- Tr. 51-71 .- 658
Bài viết sử dụng dữ liệu giá đóng cửa hàng ngày trên thị trường chứng khoán của ASEAN6 để phân tích sự thay đổi trong mối liên hệ giữa các thị trường này gây ra bởi COVID-19. Để thực hiện mục tiêu này, bài viết áp dụng các công cụ định lượng của lý thuyết thông tin, cụ thể là đo lường lượng thông tin chung thể hiện sự phụ thuộc lẫn nhau, và đo lường dòng thông tin di chuyển giữa các thị trường bằng transfer entropy. Kết quả phân tích số liệu cho thấy có một sự thay đổi rõ rệt trong mối liên hệ giữa các thị trường trong giai đoạn COVID-19 diễn ra so với trước đó. Các thị trường trở nên phụ thuộc nhau nhiều hơn, số lượng kết nối giữa các thị trường gia tăng và độ mạnh của các kết nối cũng tăng lên rõ rệt. Khi xem xét các chuỗi tỷ suất sinh lợi, trong giai đoạn COVID-19, Singapore thể hiện vai trò là trung tâm tài chính của Đông Nam Á khi mà dòng thông tin từ thị trường Singapore truyền đến tất cả các thị trường khác. Việt Nam cũng chia sẻ nhiều thông tin chung với Malaysia và Philippines, trong khi gần như không có liên hệ với thị trường Indonesia và Thái Lan trong cả hai giai đoạn. Ngược lại, khi xem xét độ biến động, thị trường Thái Lan đóng vai trò là nguồn lan truyền thông tin biến động trong khi Singapore lại đóng vai trò nhận thông tin biến động từ các thị trường khác.
4456 Tác động chính sách an toàn vĩ mô đến rủi ro ngân hàng : nghiên cứu tại các quốc gia có nền kinh tế mới nổi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế thế giới / // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 8 .- Tr. 72-96 .- 332.12
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác động của chính sách an toàn vĩ mô (CSATVM) đến rủi ro ngân hàng tại Các nước có nền kinh tế mới nổi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế thế giới (Emerging and growth-leading economies – EAGLEs). Thông qua hồi quy đa biến theo cách tiếp cận Bayes, và cách lấy mẫu Gibbs, kết quả nghiên cứu cho thấy công cụ Giới hạn cho vay bằng ngoại tệ; Giới hạn phơi nhiễm hệ thống; dự trữ bắt buộc (DTBB) tăng thêm đối với tổ chức tín dụng có tầm quan trọng với hệ thống tài chính và/hoặc DTBB tiền gửi ngoại tệ cải thiện ổn định hệ thống ngân hàng rất rõ nét. Tuy nhiên, công cụ DTBB phản chu kỳ và tỷ lệ khoản vay trên giá trị tài sản lại làm tăng bất ổn hệ thống ngân hàng. Nghiên cứu cũng đánh giá tác động của lạm phát và tăng trưởng kinh tế đến rủi ro hệ thống ngân hàng, nhưng kết quả cho thấy ảnh hưởng của hai yếu tố vĩ mô này rất mờ nhạt.
4457 Bất định chính sách kinh tế của Trung Quốc và nắm giữ tiền của các công ty thuộc khu vực Đông Nam Á / Trần Thị Hải Lý, Mai Thị Thanh Trà // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 8 .- Tr. 25-50 .- 330
Bài viết này xem xét ảnh hưởng của sự bất định trong chính sách kinh tế của Trung Quốc đến nắm giữ tiền tại các công ty thuộc sáu quốc gia ở khu vực Đông Nam Á. Ý tưởng nghiên cứu bắt nguồn từ mối quan hệ ngày càng mật thiết giữa nền kinh tế Trung Quốc và các quốc gia láng giềng, trong đó nổi lên vai trò chi phối của Trung Quốc đối với các quốc gia còn lại. Sử dụng dữ liệu cấp độ công ty ở sáu quốc gia nói trên trong giai đoạn 2010 – 2018, kết quả nghiên cứu cho thấy sự gia tăng bất định trong chính sách kinh tế của Trung Quốc khiến các công ty thuộc khu vực Đông Nam Á nắm giữ ít tiền mặt hơn. Bên cạnh đó, chúng tôi ghi nhận bằng chứng thể hiện sự bất định chính sách kinh tế góp phần làm suy giảm tác động ngược chiều của đầu tư lên lượng tiền nắm giữ. Các kết quả nghiên cứu là nhất quán khi sử dụng các phương pháp đo lường thay thế cho bất định chính sách kinh tế của Trung Quốc và khi thay đổi phương pháp ước lượng.
4458 Cần Thơ có thể là đầu tàu tăng trưởng của ĐBSCL? : phân tích chất lượng và lan tỏa tăng trưởng kinh tế / // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 9 .- Tr. 78-100 .- 330
Nghiên cứu này phân tích và đánh giá chất lượng tăng trưởng của thành phố Cần Thơ trong giai đoạn 2005 – 2018, đặt trong tương quan so sánh với tăng trưởng kinh tế của Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cách tiếp cận này cho phép nghiên cứu xác định vai trò lan tỏa tăng trưởng của Cần Thơ đối với các tỉnh ĐBSCL và giúp trả lời cầu hỏi Cần Thơ có thể đóng vai trò đầu tàu tăng trưởng kinh tế của ĐBSCL hay không. Kết quả nghiên cứu cho thấy Cần Thơ đã và đang đạt được thành tích tăng trưởng và có chất lượng tăng trưởng tốt nhất ĐBSCL. Cần Thơ có thể ở vị trí đầu tàu tăng trưởng kinh tế cho vùng ĐBSCL khi tăng trưởng kinh tế của Cần Thơ đã tạo lan tỏa tích cực đến tăng trưởng kinh tế của các tỉnh trong vùng. Dư địa cho tăng trưởng vẫn còn nhiều, Cần Thơ có thể tổ chức lại việc sử dụng hiệu quả nguồn lực để có thể thúc đẩy năng suất nhân tố tổng hợp tăng trưởng cao hơn, từ đó tạo ra tăng tưởng kinh tế ở mức cao.
4459 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng quan hệ giữa người tiêu dùng với công ty : kết quả kiểm định PLS-SEM và mạng nơ-ron nhân tạo / Nguyễn Nhan Như Ngọc // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 9 .- Tr. 43-77 .- 658
Nghiên cứu kiểm định các nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng quan hệ giữa người tiêu dùng với công ty. Điểm mới của nghiên cứu thể hiện qua việc (1) tích hợp trách nhiệm xã hội, giá trị khách hàng, và công bằng giá vào mô hình giải thích sự biến thiên của chất lượng quan hệ trên quan điểm của người tiêu dùng, (2) đề xuất giá trị đạo đức là một loại giá trị khách hàng trong bối cảnh tiêu dùng liên quan đến trách nhiệm xã hội, (3) sử dụng phương pháp đa phân tích nhằm đánh giá chính xác quan hệ phức tạp giữa các biến trong mô hình nghiên cứu. Kết quả phân tích PLS-SEM cho thấy mô hình phù hợp tốt với dữ liệu nghiên cứu, đồng thời khám phá vai trò quan trọng nhất của giá trị khách hàng đối với chất lượng quan hệ, kế đến là trách nhiệm xã hội và công bằng giá. Phân tích mạng nơ-ron nhân tạo góp phần khẳng định kết quả của PLS-SEM.
4460 Hội tụ về tốc độ tăng trưởng kinh tế của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung Ương / Lý Đại Hùng // Jabes - Nghiên cứu kinh tế và kinh doanh châu Á .- 2020 .- Số 9 .- Tr. 25-42 .- 330
Bài viết đánh giá các yếu tố chi phối sự hội tụ về tốc độ tăng trưởng kinh tế (tức là hội tụ tương đối) của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tại Việt Nam. Phương pháp nghiên cứu kết hợp lý thuyết tăng trưởng nội sinh, được phân tích bởi Aghion và Howitt (2008), với bằng chứng thực nghiệm dựa vào bộ số liệu của 63 địa phương giai đoạn 2010-2019. Kết quả ghi nhận rằng chỉ với các địa phương có chất lượng cao về nguồn nhân lực (cao hơn mức ngưỡng đề xuất bởi bằng chứng thực nghiệm), tốc độ tăng trưởng thu nhập gia tăng khi khoảng cách thu nhập càng xa, tức là hội tụ về tốc độ tăng trưởng. Với các địa phương còn lại đang tồn tại sự phân cực về tốc độ tăng trưởng (tốc độ tăng trưởng thu nhập suy giảm khi khoảng cách thu nhập càng xa). Trong các thành phố trực thuộc Trung ương, Hải Phòng có tốc độ tăng trưởng vượt trội nhờ tận dụng lợi thế của địa phương đi sau, dựa vào sự kết hợp của khoảng cách công nghệ ban đầu xa và cải thiện liên tục về chất lượng thể chế. Các kết quả nghiên cứu gợi ý rằng chất lượng nguồn nhân lực cần được chú trọng trong các thiết kế chính sách ở cấp địa phương trong thời gian tới.





